You are on page 1of 139

Khoa Nông Nghiệp & TNTN

Thủy Sinh Đại Cương

Tác giả: Hứa Thị Phượng Liên

Giới Thiệu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

THỦY SINH ĐẠI CƯƠNG

Hứa Thị Phượng Liên


Long Xuyên - 2005
Chương 1: Lịch Sử Hình Thành Và Hiện Trạng Nghề Cá

Lịch sử phát triển nghề cá

Dựa theo một số tư liệu ghi lại, lịch sử phát triển của con người và lịch sử phát
triển nghề cá có mối quan hệ gắn bó với nhau. Lúc ban sơ xã hội loài người còn
nhỏ nên nhu cầu thực phẩm chưa nhiều, nên việc thu lượm đáp ứng được nhu
cầu đời sống. Về sau xã hội loài người phát triển lớn dần lên, nhu cầu thực
phẩm gia tăng, việc hái lượm không còn đáp ứng đủ nhu cầu, nên hoạt động
săn bắt, khai thác tự nhiên bắt đầu phát triển.
1. Nền tảng nghề khai thác cá
Từ những hoạt động săn bắt cá, sau đó hình thành nghề khai thác cá tự nhiên.
Ban đầu các dụng cụ săn bắt cá rất thô sơ, sau đó ngư cụ dần dần được cải
tiến. Từ các loại ngư cụ đơn sơ như câu, lưới chài, nò... đến nay đã có những
dụng cụ săn bắt hiệu quả hơn như lưới vây, lưới cào, máy dò cá, ánh sáng đèn
dụ cá ... Ngày nay, nghề khai thác cá vẫn còn tồn tại với một trình độ cao. Săn
bắt, khai thác cá là nền tảng của sự phát triển nghề khai thác cá hiện đại và sẽ
vẫn còn phát triển trong tương lai.
2. Nền tảng nghề nuôi cá
Khi việc săn bắt những sản phẩm được nhiều hơn nhu cầu sử dụng thì con
người bắt đầu lưu giữ lại những sản phẩm đó trong môi trường gần giống với
môi trường thiên nhiên để dùng được lâu hơn. Từ việc lưu giữ đó, một số loài
sinh sôi nảy nở thêm về số lượng, khi cho thêm thức ăn vào thì thấy các sinh
vật lưu giữ lại lớn nhanh hơn. Ý niệm nuôi cá bắt đầu hình thành. Nghề nuôi cá
dần dần phát triển trãi hằng ngàn năm qua.

Hiện trạng nghề cá


1. Nghề khai thác cá thế giới
Đến nay sản lượng của nghề khai thác cá thế giới chủ yếu là các loài cá biển.
Niềm tin về nguồn lợi vô tận của biển vẫn còn được duy trì. Nhưng thực tế,
nghề khai thác cá đang đi dần vào theo hướng vượt mức ổn định. Sản lượng
khai thác cá có xu hướng sụt giảm.
Nghề khai thác cá biển có thể chia thành ba giai đoạn phát triển

1. Giai đoạn tăng nhanh từ năm 1940 (20 triệu tấn) đến năm 1970 (60 triệu
tấn).
2. Giai đoạn tăng chậm từ năm 1970 đến 1989 (90 triệu tấn)
3. Giai đoạn không tăng và có xu hướng giảm, từ năm 1982 đến nay.

2. Nghề nuôi cá thế giới


Nghề nuôi cá châu Á xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc, ít nhất khoảng 2500
năm. Vì năm 474 trước Công Nguyên Việc nuôi cá chép đã được Phạm Lãi
(Fan Li) ghi chép. Điều nầy có nghĩa là kỹ thuật nuôi cá phải có trước đó.
Ở châu Phi nghề nuôi cá có cách đây khoảng 4000 năm tại Ai Cập. Trước công
nguyên khoảng 2000 năm nghề nuôi cá đã được hình thành và còn để qua các
bức vẽ trên đá, đối tượng nuôi là cá rô phi trong ao hay trong các kênh thoát
nước chính.
Nuôi kết hợp cá chép (nuôi ghép) với các loài cá chép Trung Quốc trong các ao
bón phân và nuôi cá có cho ăn xuất hiện khoảng vài thế kỷ qua. Nuôi ghép các
loài cá chép Ấn Độ với nhau trong ao (không có bón phân hay cho ăn) xuất hiện
cách đây 1000 năm.
2.1.Nghề nuôi cá nội địa
Nghề nuôi cá nội địa hay là nuôi cá nước ngọt ở hầu hết các quốc gia châu Á
chỉ phát triển trong thời gian gần đây. Các nhà buôn Trung quốc đã đem cá
chép vào nuôi ở các quốc gia Đông nam Á như Indonesia, Malaysia, Singapore
và Thailand vào cuối thế kỷ qua hay đầu thế kỷ 20.
Ở Việt Nam và Lào, nghề nuôi cá trong ruộng lúa trên các vùng núi đồi xuất hiện
ở miền Bắc do người dân tộc Thái khởi đầu đã qua một vài thế kỷ. Nghề nuôi cá
bè ở Biển Hồ - Campuchia và An Giang Đồng Tháp có khoảng gần 50 năm.
Một vài quốc gia như Myanma và Nepal, nghề nuôi cá còn rất trẻ khoảng 50
năm tuổi. Hầu hết nghề nuôi cá ở các nước châu Á chỉ phát triển đáng kể vào
khoảng hơn 30 năm qua. Loài cá nuôi chủ yếu là các loài cá chép, cá tra, ba sa
và cá rô phi. Hiện nay nghề nuôi cá nước ngọt đã phát triển với nhiều mô hình
nuôi và đối tượng nuôi khác nhau. Từ hình thức nuôi nước tĩnh, điển hình là
nuôi cá ao đã phát triển thành mô hình nuôi cá trong hồ chứa với diện tích mặt
nước lớn. Nuôi cá nước chảy trong lồng, bè, đăng quầng ven sông, hay nuôi cá
trong hệ thống sản xuất kết hợp canh tác lúa, mương vườn cây ăn trái…
2.2. Nghề nuôi cá ven biển hay nuôi hải sản
Nghề nuôi cá ven biển còn gọi là nghề nuôi hải sản. Hình thức nuôi là những
đầm nuôi cá tôm có giống thu từ tự nhiên. Đầm nuôi thiết kế dựa vào ảnh
hưởng của nhịp độ thuỷ triều. Ngoài ra còn có những chiếc bè nuôi cá biển. Đối
tượng nuôi đa dạng, ngoài cá còn có các loài giáp xác như tôm, cua…, nhuyễn
thể như hàu, vẹm, trai, sò, nghêu, ốc, điệp… và các loài rong biển.
Nghề nuôi cá ven biển xuất hiện đầu tiên là nghề nuôi cá măng ở đảo Java -
Indonesia khoảng 600-800 năm sau công nguyên. Ở Philippine nghề nuôi cá
măng cũng xuất hiện vài trăm năm. Ở Nhật bản, nghề trồng rong biển bắt đầu
cách đây khoảng 400 năm và nuôi nhuyễn thể khoảng 300 năm. Ở Việt nam
nghề nuôi hải sản còn rất non trẻ. Nghề nuôi tôm quảng canh xuất hiện trước,
nuôi tôm bán thâm canh chỉ bắt đầu từ những năm đầu của 1980, sau đó nuôi
nhuyễn thể: nghêu, sò huyết…

Định nghĩa một số thuật ngữ trong nghề cá


1. Cá (fish) là gì?
Theo nghĩa rộng của ngành thì cá là những sinh vật sống trong môi trường
nước. Theo nghĩa hẹp thì cá là những động vật có xương sống, sống trong
nước, hay sống lưỡng cư thở bằng mang, có thể được sử dụng trực tiếp cho
nhu cầu đời sống của con người.
2. Nghề cá (fisheries) là gì?
Đó là những công việc liên quan đến quá trình khai thác, nuôi trồng và phát triển
nguồn lợi các sinh vật sống trong nước. Khi nói đến nghề cá thì nó được hiểu
như một hoạt động bao gồm 3 lãnh vực : khai thác, (Capture fisheries), nuôi
trồng thủy sản (Aquaculture) và phát triển nguồn lợi (Culture based or enhenced
fisheries).
3.Thủy sản là gì?
Thủy sản là những sản vật khai thác được từ trong môi trường nước, có thể qua
hay không qua khâu nuôi trồng. Các sản vật nầy chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp
là động vật và thực vật.
4. Nuôi trồng thủy sản là gì (Aquaculture)?
Thuật ngữ Nuôi Trồng Thủy Sản được sử dụng khá rộng rãi để chỉ việc nuôi các
động vật thủy sinh (cá - fish, thủy sinh vật có vỏ - shellfish) và thực vật thủy sinh
(rong biển - seaweeds) trong môi trường nước ngọt và lợ. Theo cách nói khác
Nuôi trồng thủy sản là hoạt động canh tác ở môi trường nước (farming in water).
Tuy nhiên, khi nói về Nuôi trồng thủy sản cũng có thể phân chia chúng theo các
nhóm khác nhau, nếu dựa theo:

• Kỹ thuật nuôi hay hệ thống nuôi thì có nuôi ao, nuôi lồng, bè, nuôi nước
chảy, nuôi đăng quầng, ...
• Đối tượng nuôi thì có : nuôi cá, nuôi sò, nuôi tôm, rong biển, ...
• Môi trường nuôi thì có nuôi nước ngọt, nuôi nước lợ, nuôi nước mặn ...
• Tính chất môi trường nuôi thì có nuôi vùng nước lạnh, nuôi vùng nước
ấm, nuôi vùng cao, nuôi vùng đồng bằng, nuôi nội địa, nuôi ven biển, ...

Ngoài ra, cũng có những định nghĩa khác về nuôi trồng thủy sản như

1. Nuôi trồng thủy sản là bất kỳ những tác động nào của con người làm cải
thiện sự sinh trưởng của một sinh vật nào đó trong một diện tích nuôi nào
đó.
2. Nuôi trồng thủy sản là một hay nhiều tác động (của con người) làm ảnh
hưởng tới chu ký sống tự nhiên của sinh vật nào đó.
3. Theo FAO (1993): Nuôi trồng thủy sản là canh tác các thủy sinh vật bao
gồm cá (fish), nhuyễn thể (Molluscs), giáp xác (Crustaceans) và thủy thực
vật (Aquatic plants). Canh tác có nghĩa là một dạng tác động vào quá trình
ương nuôi để nâng cao năng suất như thả giống thường xuyên, cho ăn,
ngăn chặn địch hại ...
Chương 2: Môi Trường Nước Và Các Loại Thuỷ Vực
Trong Thiên Nhiên

Môi trường nước


Định Nghĩa: Môi trường (environment ) là phần thế giới vật chất bao quanh ta.
Trong đó môi trường thủy quyễn (hydrosphere) là một bộ phận của môi trường
thiên nhiên và là môi trường sống có diện tích lớn nhất, chiếm 71% diện tích trái
đất (363 triệu km2/510 triệu km2).
1. Tài nguyên nước (Water resources)
1.1. Tài nguyên nước thế giới
Sự sống tồn tại trên trái đất nhờ có nước. Từ xa xưa vai trò của nước đã được
nhận thức là rất quan trọng trong đời sống nhân loại. Các nền văn minh lớn của
nhân loại trên thế giới hầu hết đều phát sinh bên cạnh các dòng sông lớn. Nền
văn minh Lưỡng Hà ở Tây Á. Nền văn minh Ai cập ở hạ lưu sông Nile. Văn
minh sông Hằng ở Ấn Độ. Văn minh Hoàng hà ở Trung quốc và văn minh sông
Hồng ở việt Nam… Nước tham gia vào thành phần cấu trúc của sinh quyển.
Chu trình vận động của nước trong khí quyển giữ vai trò quan trọng trong việc
điều hòa khí hậu, đất đai và sự phát triển trên trái đất.
Nước được xem là một tài nguyên đặc biệt, vì tàng trữ một năng lượng lớn
cùng nhiều chất hòa tan có thể khai thác phục vụ cuộc sống con người. Tài
nguyên nước trên trái đất ước tính khoảng 1.386 triệu km3. Lượng nước ngọt
sử dụng được chỉ có 0,8%. Trong khoảng 105.000km3 nước mưa - nguồn cung
cấp nước ngọt cho trái đất - thì 1/3 số nước (khoảng 37.000 km3) đổ xuống
sông, suối và tích tụ trong đất, còn 2/3 trở lại bầu khí quyển do bốc hơi bề mặt
và sự thoát hơi nước ở thực vật. Trong 1/3 lượng nước đó, nước dùng sinh
hoạt trung bình trên đầu người vào khoảng 250 lit/ngày. Ở các nước công
nghiệp phát triển, lượng nước sử dụng cao gấp 6 lần mức trên.

Thể tích nguồn nước tự nhiên trên thế giới

Nguồn nước Thể tích(1.000km3) Tỷ lệ(%)


Đại dương 1.348.000 97,312
Nước ngầm 8.000 0,577
Băng 29.000 2,093
Hồ, Sông, Suối 200 0,014
Nước chảy tràn từ lục địa 40 0,003
Tổng cộng 1.385.240 100

1.2. Tài nguyên nước Việt nam


Việt Nam có nguồn tài nguyên nước khá dồi dào, do Việt Nam có lượng mưa
trung bình hằng năm cao, hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc ( mật độ 0,5 -
2 km/km2) với chiều dài tổng cộng trên 52.000km. Trong đó có các hệ thống
sông lớn như Mékông, sông Hồng, sông Đồng Nai …Ngoài ra còn có 213.549
ha mặt nước hồ chứa và các công trình thủy lợi, thủy điện lớn như Hòa Bình,
Thác Bà, Trị An, Núi Cốc, Kẻ Gỗ, Dầu Tiếng, Nậm Rốn, Tà Keo …
Chất lượng nước của sông ngòi Việt Nam có độ khoáng hóa thấp (200mg/l),
phản ứng trung tính hoặc kiềm yếu, thuộc loại nước mềm.
2. Đặc tính của môi trường nước thuận lợi cho sự sống của thủy sinh vật
2.1.Độ hòa tan lớn:
Phân tử nước gồm 2 nguyên tố Hydrogen và Oxygen hợp thành. Đây là một
phân tử lưỡng cực và không đối xứng. Trong phân tử nước khoảng cách giữa
Hydrogen và Oxygen không giống nhau nên tạo ra bản chất lưỡng cực và tạo
thành một điện trường quanh nó. Nhờ đặc điểm nầy nước có thể hòa tan được
nhiều chất khí khi chúng ở dạng ion. Các loại muối vô cơ là dạng điển hình của
mạng ion, khi các loại muối nầy được đưa vào nước sẽ lần lượt hòa tan trong
môi trường nước. Nước hòa tan được một số hợp chất vô cơ, hữu cơ và các
chất khí. Khả năng hòa tan và điện ly lớn của nước làm cho môi trường nước
trở thành môi trường cung cấp các chất dinh dưỡng và các chất khí cho thủy
sinh vật. Đồng thời dễ dàng phân tán các chất do chúng thải ra.
2.2. Khối lượng riêng cao và độ nhớt thấp
Hai đặc tính nầy ảnh hưởng rất quan trọng đến sự di động của thủy sinh vật ở
trong nước. Sức nâng đỡ sẽ lớn làm vật dễ nổi, sức cản sẽ nhỏ, vật sẽ bơi
nhanh hơn và ít tốn năng lượng.
2.3. Nhiệt lượng riêng cao và độ dẫn điện kém
Hai đặc tính nầy làm khối nước trong thủy vực hút nhiều nhiệt, giữ nhiệt, bảo
đảm điều kiện nhiệt độ ôn hòa cho đời sống thủy sinh vật.
2.4. Độ tỏa nhiệt và thu nhiệt lớn

• Độ tỏa nhiệt : 1gr nước đá tỏa ra 79,4 cal. đặc tính nầy rất quan trọng đối
với các thủy vực xứ lạnh. Khi lớp nước trên mặt thủy vực đóng băng,
nhiệt tỏa ra giữ cho lớp nước bên dưới không bị đóng băng.
• Độ thu nhiệt của nước là 538,9cal/g, lượng nhiệt nầy làm lạnh đi khối
nước xung quanh một cách đáng kể, đặc tính nầy rất quan trọng đối với
các thủy vực xứ nóng: khi nước bốc hơi dưới ánh nắng mặt trời, độ thu
nhiệt lớn của nước giữ cho nước trong thủy vực không quá nóng , ảnh
hưởng xấu đến đời sống thủy sinh vật.

2.5. Sức căng bề mặt lớn


Trong số các chất lỏng, nước có sức căng bề mặt lớn, chỉ kém thủy ngân. đặc
tính nầy tạo điều kiện cho một số sinh vật sống được quanh bề mặt nước, sống
đồng thời ở hai môi trường khí và nước.
2.6. Khối nước trong thủy vực luôn chuyển động
Do nhiều nguyên nhân, khối nước trong một thủy vực luôn luôn chuyển động ,
kể cả trong những thủy vực nước đứng. nước chuyển động giúp cho sự di
chuyển của thủy sinh vật dễ dàng, cung cấp Oxy và thức ăn trong nước, phân
tán chất thải, điều hòa nhiệt độ, độ mặn, khí hòa tan trong nước được dễ dàng
thuận lợi.
Do đặc tính thuận lợi cho đời sống thủy sinh vật nên có những giả thuyết đáng
tin cậy :

• Sự sống của trái đất phát sinh từ môi nước. Các dạng sống đầu tiên được
hình thành nên trong các biển nóng xuất hiện trên trái đất hàng tỷ năm về
trước.
• Trong số 71 lớp động vật đã biết, có 53 lớp có đại diện sống ở
nước.(75%). Hầu hết các lớp động vật sống tự do (90%) có đời sống ở
nước.
• Xét về nguồn gốc phát sinh, số lượng lớp và phân lớp động vật và thực
vật phát sinh từ môi trường nước nhiều hơn hẳn so với số lớp và phân
lớp động vật , thực vật phát sinh từ môi trường cạn.
• Giới hạn phân bố của sinh vật và tầng màu mỡ của môi trường nước
cũng lớn hơn nhiều so với môi trường cạn. (Tính theo chiều thẳng đứng).

Khí quyển Đất Nước


Giới hạn phân bố sinh vật 7-8 km 2,5 -3 km tới 10 km
Giới hạn tầng màu mỡ - 0,5 - 1m tới 200m

Thủy vực và sự phân chia các vùng trong thủy vực


Các thủy vực trên trái đất có thể chia thành hai nhóm lớn: hải dương và thủy
vực nội địa. Hai nhóm nầy sai khác nhau về nhiều mặt.
Hải dương Nội địa
Diện tích Rất lớn Nhỏ
Lịch sử hình thành Thời kỳ đầu địa chất Kỷ đệ tam, tứ
Nồng độ muối Cao 0%0
Tính ổn định Ít biến đổi Biến đổi nhanh

1. Đại dương thế giới, đại dương và biển

• Đại dương thế giới : Khoảng nước rộng, bao gồm tất cả các đại dương và
các biển, tạo thành một lớp nước liên tục bao quanh địa cầu. Trong số
510 triệu Km2 diện tích vỏ trái đất, mặt nước biển chiếm 361 triệu km2,
đất liền chỉ chiếm 149 km2 . Như vậy 70,8% diện tích trái đất là đại dương
và biển, còn 29,2% là đất liền. đại dương thế giới gấp 2,5 lần diện tích đất
liền.
• Đại dương là một bộ phận của Đại dương thế giới. Các đại dương tách
biệt với nhau bởi các dấu hiệu sau đây: đường ven bờ các lục địa và các
quần đảo, địa hình đáy biển, các hệ thống độc lập của dòng chảy biển
(hải lưu), hoàn lưu khí quyển, sự phân bố ngang và thẳng của nhiệt độ
nước, độ muối và các điều kiện sinh học.

Hiện nay hệ thống phân chia đại dương thế giới được chấp nhận như sau: Thái
Bình dương, Đại Tây dương, Ấn Độ dương và Bắc Băng dương.

• Biển: Các phần riêng biệt của đại dương ăn sâu vào đất liền, ít hay nhiều
gọi là các biển. Về địa lý biển nhỏ hơn nhiều so với đại dương. Biển là bộ
phận của đại dương. Theo qui luật, các biển đều có một chế độ thuỷ văn
chi phối khác với chế độ thuỷ văn của phần đại dương tiếp cận tới một
mức độ nào đó.

Tuỳ theo dấu hiệu hình thái và thuỷ văn, các biển được chia như sau:

• Biển ven lục địa.


• Biển bên trong lục địa.
• Biển giữa các lục địa và biển giữa các đảo …

Chúng là những khu vực tách biệt ít nhiều với với thuỷ vực đại dương. những
nét khác biệt đó có thể là do cấu tạo của vỏ trái đất ở đáy, thành phần và các
tính chất của nước. Nồng độ muối của của các biển thường khác nhau với độ
muối trung bình của đại dương. Biển cũng khác với đại dương về chế độ nhiệt,
tính chất triều, điều kiện sinh thái, hệ thống dòng chảy (hải lưu). Tất cả những
những nét đặc thù của biển là do sự tương tác của biển với đất liền tiếp cận.
Nền vỏ bao quanh khối nước hải dương từ trên xuống dưới có thể phân chia
thành các vùng như sau:

• Vùng thềm lục địa: vùng tương đối bằng phẳng, ít dốc, sâu khoảng 200 -
500m, vùng nầy chiếm khoảng 7,6% diện tích hải dương. Riêng về nền
đáy của vùng nầy được chia thành các vùng như sau:
o Vùng triều ( Littoral) là vùng bờ hải dương giới hạn trong biên độ
dao động của thuỷ triều.
o Vùng trên triều (Supralittoral) là vùng phía trên mức thuỷ triều cao
nhất.
o Vùng dưới triều (Sublittoral) là vùng đáy sâu khoảng 200 - 500m.
đây là vùng của khu hệ thuỷ sinh vật hải dương phong phú nhất về
thành phần và số lượng.
• Sườn dốc lục địa (Batial) là vùng dốc tiếp theo của vùng thềm lục địa, sâu
500 - 3.000m, theo nền đáy thì đây gọi là sườn đáy dốc.
• Nền hải dương là vùng sâu hơn 3.000m, vùng nầy được chia thành 2
vùng phụ theo cấu trúc đáy. (Hình 3)
o Vùng đáy sâu (Abyssal) là vùng có độ sâu 3.000 - 6.000m.
o Vùng đáy cực sâu (Ultraabyssal): đây là vùng hẹp, sâu nhất hải
dương.

Theo chiều ngang, người ta phân chia bề mặt hải dương thành hai vùng lớn là
vùng ven bờ và vùng khơi.

• Vùng khơi : tương ứng các vùng sâu trên 500m.

Sự phân chia các vùng hải dương không đồng nhất mà tuỳ thuộc vào từng tác
giả. Độ chiếu sáng của tầng nước, đặc tính phân bố thành phần loài và số
lượng động thực vật, đặc tính cấu trúc quần loại sinh vật sống trong mỗi vùng là
những yếu tố làm cơ sở để phân chia các vùng của hải dương. Mỗi vùng phân
chia của hải dương có những đặc điểm riêng biệt về các nhân tố vô sinh như:
nhiệt độ, nồng độ muối, ánh sáng, nền đáy… và những yếu tố hữu sinh như
thức ăn được coi như những sinh cảnh riêng, là nơi sống của quần loại sinh vật
riêng thích ứng với điều kiện sông nơi đó.

2. Thủy vực nội địa


Các thuỷ vực nội địa chỉ chiếm một diện tích rất nhỏ của môi trường nước so
với hải dương, nhưng lại rất phức tạp về hình thái cấu tạo cũng như về đặc tính
thuỷ lý, hoá học và sinh học.
2.1. Các thủy vực trên mặt đất
Các thuỷ vực nội địa trên mặt đất có thể chia thành hai nhóm: nước đứng và
nước chảy. Các thuỷ vực nước đứng tiêu biểu là hồ, ao, đầm, đồng lầy …. Các
thuỷ vực nước chảy tiêu biểu là sông, suối, mạch nước phun. Cũng có thể phân
biệt các thuỷ vực tự nhiên và nhân tạo như hồ chứa nước, ruộng lúa nước, ao
đào, các hệ thống kênh mương thuỷ lợi… Trên thực tế, sự phân chia nầy ? các
loại thuỷ vực trên đây không thật rõ ràng và ổn định. Có những thuỷ vực vừa có
tính chất nước chảy, vừa có tính chất nước đứng như hồ chứa nước. Có những
loại thuỷ vực như ruộng lúa nước có thể là thuỷ vực nước chảy hay nước đứng
phụ thuộc vào đặc tính chế độ canh tác của từng vùng.

• Hồ tự nhiên là loại thuỷ vực có dạng trũng sâu lớn trên mặt đất, chứa
nước, có thể chứa nước đứng hoặc nước chảy chậm. Về mặt hình thái và
khối nước, hồ khác với đầm ao về độ lớn về diện tích và độ sâu. Hồ cũng
khác sông ở hình thái là nền vỏ ngắn hơn, tốc độ nước chảy chậm hay
nước đứng hẳn. Hồ tự nhiên khác với hồ chứa nhân tạo ở nguồn gốc hình
thành, không có đập chắn, nhưng có liên hệ về vị trí và chế độ nước đối
với sông liên quan … Về mặt nguồn gốc, hồ tự nhiên có nhiều loại được
phân biệt theo nguyên nhân hình thành: hồ nguồn gốc sông, hồ hang đá
vôi, hồ địa chấn, hồ băng hà….

Nền vỏ của một hồ tự nhiên tiêu biểu có thể chia thành (hình 4 -5)

• Vùng nền hồ: vùng nền đất tương đối bằng phẳng ở ven bờ.
• Vùng dốc hồ: vùng tiếp với nền hồ có độ dốc lớn.
• Vùng lòng chảo: vùng sâu nhất ở giữa hồ, có diện tích lớn nhất.

Tương ứng với các vùng phân chia nầy, nền đáy hồ có thể chia thành các vùng
như sau:

• Vùng ven bờ: vùng nông, ứng với vùng nền hồ, có thực vật lớn ở nước
phát triển, mọc nhô lên trên mặt nước hay ở dưới mặt nước.
• Vùng đáy dốc: vùng tiếp sau, ứng với vùng dốc hồ. Vùng nầy đã tương
đối sâu, thực vật lớn ở nước đã ít đi và kéo dài tới giới hạn phân bố cuối
cùng của thực vật lớn ở nước trong hồ.
• Vùng đáy sâu: ?ng với vùng lòng chảo, nước sâu không có thực vật lớn ở
nước.

Tương ứng với các vùng phân chia đáy hồ, tầng nước hồ có thể phân chia
thành tầng mặt (epilimnion), tầng giữa (metalimnion) và tầng đáy (hypolimnion).
Các tầng sai khác nhau ở nhiều đặc điểm về thuỷ lý, hóa học và sinh học. Sự
phân chia các vùng và các tầng trong hồ trên đây chỉ thấy rõ ở các hồ tương đối
lớn về diện tích và độ sâu. Ở các hồ hồ nhỏ sự phân chia nầy thường không rõ
ràng. Trong thiên nhiên, hồ tự nhiên thường trải qua nhiều giai đoạn phát triển
từ khi mới hình thành cho tới giai đoạn già cổi và có khi mất hẳn. Quá trình phát
triển nầy có khi chỉ trong vòng vài trăm năm. Do hiện tượng vật chất tích tụ từ
bên ngoài hay bên trong hồ. Hồ dần dần trở thành nông và hẹp dần rồi mất hẳn
đặc tính hồ ban đầu, chuyển thành đầm rồi thành ao. Sau cùng hồ có thể
chuyển thành đầm lầy hay mất hẳn.

• Hồ chứa nước nhân tạo: Đây là những thuỷ vực nhân tạo được xây bằng
cách đắp đập, ngăn dòng chảy của sông hoặc suối. Do đó khối nước
trong hồ ở gần đập có tốc độ chảy rất chậm, mang tính chất hồ. Trong khi
đó ở nơi xa đập, tốc độ nước chảy còn lớn, còn mang tính chất dòng
sông. Hồ nhân tạo khác với hồ tự nhiên ở hình thái mất đối xứng của
vùng trũng sâu. Vùng sâu nhất của hồ không phải ở chính giữa hồ mà
lệch phía đập ngăn. Mặt khác hồ nhân tạo khác sông ở chỗ chỉ có lớp
nước trên mặt là luôn luôn chảy theo một chiều. Do sự biến đổi lớn của
mực nước hồ trong năm, nên các vùng phân chia của hồ chứa nước nhân
tạo thường rất phức tạp và khó xác định.
• Ao là loại thuỷ vực nước đứng nhỏ, nông, hình thành nên do nhiều
nguyên nhân tự nhiên hoặc nhân tạo. Ao có thể là vùng trũng sâu tự
nhiên (ao tự nhiên) hoặc đào nên (ao đào) tích tụ nước từ nhiều nguồn
khác nhau: nước mưa, nước sông, suối … Ao ở các vùng núi còn hình
thành nên do đắp đập ngăn một vùng lũng sâu tích tụ nước suối. Do diện
tích nhỏ và nông (khoảng 1-2m) nên các vùng phân chia không rõ ràng.
Thực vật ở nước phát triển vùng ven bờ, nhưng do đáy nông có khi lan cả
tới vùng giữa.
• Đầm là loại hình thuỷ vực có kích thước và độ sâu trung bình, có thể xem
là loại hình thuỷ vực trung gian giữa hồ và ao, là một giai đoạn trong quá
trình ao hoá của hồ. Về mặt loại hình, ao và đầm cũng có thể coi là thuỷ
vực dạng hồ.
• Sông là thuỷ vực nước chảy tiêu biểu với đặc điểm: khối nước luôn chảy
theo một chiều nhất định, từ thượng lưu đến hạ lưu, do sự chênh lệch về
độ cáô với mặt biển của dòng sông. Dòng chảy của một con sông khi
nước đầy giữa hai bờ sông gọi là dòng chảy nền. Khi nước cạn, dòng
chảy của sông thu vào dòng chảy gốc, cách xa hai bờ sông. Bãi đất cạn
hở ra trong mùa nước nằm giữa bờ sông và dòng chảy gốc gọi là bãi
sông. Bãi sông có thể phân thành nhiều tầng. Theo dòng chảy, từ đầu
nguồn tới cửa sông có thể chia thành ba phần:

* Đầu nguồn (thượng lưu): sông thường hẹp, nông, tốc độ nước chảy mạnh,
nền đáy là nền đáy gốc, bao phủ bởi các phần tử vật chất cỡ lớn. Nếu vùng núi
nền đáy sông là đá cỡ lớn.
* Giữa nguồn (trung lưu) : dòng sông rộng dần ra, có thẻ có thêm nhiều phụ lưu,
tốc độ nước chảy giảm đi. Nền đáy sông ở vùng nầy có tính chất hỗn hợp: nền
đáy gốc chỉ còn ở một số nơi, còn chủ yếu là nền đáy bồi đắp, cấu tạo bởi vật
chất cỡ nhỏ (đá nhỏ, cát, bùn) do nước sông tãi đến lắng đọng xuống.
* Cuối nguồn (hạ lưu): có lòng sông mở rộng cho tới cửa sông, tốc độ nước
chảy nhẹ. Nền đáy hoàn toàn là nền đáy bồi đắp và chỉ gồm các phần tử vật
chất cỡ nhỏ (cát, bùn ).

• Vùng cửa sông là vùng tiếp xúc với biển, chịu ảnh hưởng thuỷ triều. Nước
sông pha lẫn với nước biển tạo thành một vùng có đặc tính thuỷ lý, hoá
học, thuỷ sinh học rất phắc tạp và đặc sắc. Tốc độ nước chảy của sông
cũng thay đổi theo chiều ngang: mạnh ở giữa dòng và nhẹ ở hai ven bờ.
Nền đáy và bờ sông không ngừng bị bào mòn. Các vật chất bị bào mòn ở
nơi này sẽ được tãi đến bồi đắp ở nơi khác. Do đó làm dòng sông luôn
biến đổi theo theo chiều ngang cũng như theo chiều thẳng đứng. Có khi
làm dòng chảy đổi hướng tạo thành hình thái khúc khuỷu của dòng sông
ở trung lưu.
• Suối là loại thuỷ vực nước chảy phổ biến ở vùng núi. Suối đặc trưng ở
lòng hẹp và nông của dòng chảy, mực nước thấp và có nền đáy đá. Theo
chiều dài, con suối có thể chia thành ba phần:
o Đầu nguồn : là phần trên sườn dốc, nước đổ thành thác, nền đáy
là đá tảng.
o Giữa nguồn: là phần suối chảy qua thung lũng, làng, bản …lòng
suối rộng ra, nền đáy là đá nhỏ haybùn.
o Cuối nguồn : là nơi suối đổ ra sông, lòng sông mở rộng có khi tạo
thành vịnh nhỏ. dọc theo suối có nhiều nhánh phụ đổ vào.
• Đồng lầy: là loại hình thuỷ vực đặc biệt, nước nông, phủ đầy thực vật ở
nước. Thuỷ vực nầy không giới hạn rõ với vùng đất khô xung quanh. Nó
được coi như dạng chuyển tiếp giữa đất khô và thuỷ vực. đồng lầy có thể
là giai đoạn cuối cùng trong giai đoạn phát triển thoái hoá của hồ tự nhiên.
Đáy nông dần lên, thực vật lớn phát triển mà hình thành.
• Ruộng lúa là loại thuỷ vực nhân tạo phổ biến và đặc trưng các vùng nhiệt
đới và cận nhiệt đới. Đặc điểm của ruộng lúa là có bờ ngăn thành ô
vuông, đáy bằng, nước nông, thuỷ sinh thực vật phát triển dày đặc (lúa,
cỏ, tảo). Xét về thời gian ngập nước, có thể chia ruộng thành các dạng
như sau:

* Ruộng một vụ có nước : Ruộng chỉ có nước vào thời vụ cấy lúa.
* Ruộng có nước quanh năm: Xét về đặc tính khối nước trong ruộng có thể chia
thành : Ruộng nước chảy ( ruộng vùng núi) và ruộng nước tĩnh (ruộng vùng
đồng bằng).
2.2. Nước ngầm:
Dùng để chỉ chung cho môi trường nước ở các dạng khác nhau nằm dưới mặt
đất. đặc tính chung của môi trường nước nầy là không có ánh sáng, độc lập với
điều kiện thời tiết bên ngoài, nhiệt độ nước thấp và không thay đổi.
Trong tự nhiên, nước ngầm có thể chia thành ba loại:

• Nước ngầm lớp trên: là lớp nước ngầm đọng lại trên lớp đất không ngấm
nước đầu tiên, tính từ mặt đất của vỏ trái đất. Loại nước ngầm nầy có
dạng hang nước ngầm, sông, hồ ngầm hoặc có dạng nước mao dẫn.
• Nước nén là lớp nước ngầm bị nén giữa hai lớp đất không ngấm nước,
do đó chịu một áp lực lớn.
• Nước khoáng là nước ngầm tiếp xúc với các khe địa chấn, hoà tan nhiều
muối khoáng. Cácn thuỷ sinh vật sống trong điều kiện nước ngầm
(Troglobiont) rất đặc trưng về hình thái và sinh học.
Đặc tính thủy lý hóa, cơ học và nền đáy thủy vực
1. Áp lực nước
Do trọng lượng riêng cao, nhất là khi có muối hoà tan (có thể đạt tới 1,347g/cm)
nên áp lực nước trong thuỷ vực khá lớn. Ở biển khi xuống sâu 10,3m và ở thủy
vực nước ngọt nội địa - cứ 9,986m (tại nhiệt độ 4oC) áp lực nước lại tăng lên 1
atm. Ở hải dương, 4/5 diện tích đáy ở độ sâu trên 1.000m (vùng sâu) có áp lực
nước trên 1.000atm. Ở các thủy vực nội địa rất ít gặp áp lực nước cao như vậy.
Mỗi loại thủy sinh vật có khả năng thích ứng riêng với áp lực nước. Các loài
thích ứng rộng (eurybathe) có thể sống được trong khoảng biến đổi rộng của áp
lực nước nên có sự phân bố rộng theo chiều sâu. Thí dụ như Hải sâm Elpidia
và Myriotrochus sống được ở độ sâu từ 100 - 9.000m. Pogonophora, nhiều loài
mực và cá chỉ gặp ở vùng nước sâu trên 5000 - 6000m, nơi có áp lực nước lớn.
Các loài thích ứng hẹp (stenobathe) chỉ sống được trong điều kiện áp lực nước
nhất định, có sự phân bố rất hẹp theo chiều sâu. Thí dụ như ốc nón Patlla, giun
ống Arenicola chỉ gặp ở vùng nước nóng ven bờ, có áp lực nước thấp.
2. Sự chuyển động của khối nước trong thủy vực
Trong thuỷ vực, do nhiều nguyên nhân tác động, khối nước luôn chuyển động,
kể cả trong thuỷ vực nước đứng. Nước trong thuỷ vực chuyển động dưới dạng
sóng và dòng chảy.
2.1. Sóng
Sóng là do quan hệ tương hổ giữa khối nước và khí quyển. Sóng do gió tạo
nên, gây ra sự chuyển động giao động của khối nước trên mặt, nhiều khi sóng
rất lớn. Ngoài sóng trên mặt còn có sóng ngầm. Sóng có ảnh hưởng lớn tới đời
sống, sự di chuyển và phân bố của thuỷ sinh vật, đặc biệt đối với các thuỷ sinh
vật vùng ven bờ và thuỷ sinh vật sông trôi nổi.
2.2. Dòng chảy
Dòng chảy có thể là dòng chảy ngang, dòng chảy thẳng đứng hay hỗn hợp.
Dòng chảy là sự chuyển động của khối nước theo một hướng nhất định trong
thuỷ vực. Dòng chảy sinh ra có thể do gió, lực hút của mặt trời, mặt trăng, sự
chênh lệch về áp lực không khí, về mực nước về trọng lượng riêng của nước,
do chênh lệch về nhiệt độ, độ mặn và các nguyên nhân khác. Dòng chảy ngang
lớn nhất và quan trọng nhất của khối nước trong hải dương là dòng thuỷ triều và
các dòng chảy hải dương. thuỷ triều ở biển và hải dương sinh ra do lực hút của
mặt trời và mặt trăng đối với trái đất. đó là hiện tượng nước nước biển và hải
dương dâng cao, hạ thấp một cách tuần hoàn trong ngày.
Ngoài các dòng chảy ngang, hải dương còn có các dòng chảy thẳng đứng.
Nước từ trên mặt hải dương chìm xuống sâu ở vùng cận cực tạo thành các
dòng chảy thẳng đứng từ trên xuống ở vùng nầy, rồi lại nổi lên ở vùng ven xích
đạo, tạo thành các dòng chảy thẳng đứng từ dưới lên ở vùng nầy. Ơû các vùng
biển ven bờ, các vịnh, đặc biệt là các biển nhiệt đới còn có các dòng nước từ
lục địa chảy ra có lưu lượng lớn sau các vụ mưa.
Đặc tính chuyển động của khối nước trong thuỷ vực ảnh hưởng rất lớn đến sự
di động, hoạt động dinh dưỡng, phân bố của thuỷ sinh vật. Các dòng nước hải
dương tạo nên những điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, thức ăn cho cá, ảnh
hưởng đến sản lượng các biển.
3. Ánh sáng
Nguồn ánh sáng chủ yếu trong các thuỷ vực là từ mặt trời và mặt trăng toả
xuống, ngoài ra còn có nguồn phát sáng từ thuỷ sinh vật. Phần lớn lượng ánh
sáng vào nước được các phân tử nước và các vật lơ lững trong nước hấp thụ.
Hệ số hấp thụ ánh sáng của nước tỷ lệ nghịch với độ trong của nước và khác
nhau đối với loại tia sáng khác nhau. Như vậy, các thuỷ vực nước đục, có lượng
chất cái (seston) lớn hấp thụ ánh sáng nhiều hơn các thuỷ vực nước trong. Các
tia sáng đi vào trong nước không đồng đều, phụ thuộc vào độ dài sóng và độ
trong của nước. Độ sâu nhất của các tia sáng đi vào nước khoảng 1.500 -
1.700m. Vùng sâu dưới 1.700m, có thể coi là vùng không có ánh sáng mặt trời.
Do các tia sáng xâm nhập vào nước khác nhau, nên có thể chia tầng nước từ
trên xuống dưới sâu thành các vùng ánh sáng khác nhau.

• Vùng trên (vùng sáng từ 0 -200m) là vùng còn đủ các tia sáng tia sáng từ
đỏ tới tím, bảo đảm sự quang hợp cho thực vật phát triển.
• Vùng giữa (vùng mắt sáng từ 200 - 1.500m) là vùng chỉ còn các tia sáng
có sóng ngắn và cực ngắn.
• Vùng dưới ( vùng tối : sâu hơn 1.500m) là vùng không có ánh sáng.

Ánh sáng ảnh hưởng đến sự di động và phân bố của thuỷ sinh vật theo độ sâu,
đặc biệt là thực vật quang hợp. Sự phân bố của ánh sáng không đồng đều theo
độ sâu đã tạo nên các vùng thực vật phong phú ứng với các vùng sáng của
tầng nước. sự thay đổi độ chiếu sáng ngày và đêm có tác dụng tới hiện tượng
di động ngày và đêm của thuỷ sinh vật. Ánh sáng còn giúp thuỷ động vật định
hướng di động, gọi là tính quang hướng động, thúc đẩy các quá trình sinh hoá
trong đời sống cá thể, tạo vitamine, ảnh hưởng nhất định đến quá trình sinh
sản, lối sinh sản, chu kỳ sinh sản và biến đổi về hình thái, màu sắc, các cơ quan
cảm quang của động vật ở các vùng khác nhau.
4. Độ phóng xạ
Độ phóng xạ của nước trong thuỷ vực là do trong nước có chứa các chất phóng
xạ như Trontium - 90, Cezium - 173, Ytrium - 91, Cerium - 144... Lớp nước mặt
tích tụ chất ph óng xạ nhiều hơn lớp nước dưới sâu. Chất phóng xạ tích tụ vào
nước từ không khí, các vụ nổ hạt nhân dưới biển, từ các chất thải của tàu
nguyên tử hay các khu công nghiệp nguyên tử. Chất phóng xạ có tác dụng gây
hại cho thuỷ sinh vật, làm trứng và phôi phát triển không bình thường. Khi tich tụ
vào cơ thể sinh vật chất phóng xạ có tác hại lan truyền cho người và thuỷ sinh
vật khác khi sử dụng chúng.
5. Nhiệt độ
Nguồn nhiệt chủ yếu của nước trong các thuỷ vực là từ bức xạ mặt trời và các
tia sóng dài: hồng ngoại, đỏ, da cam. Chế độ nhiệt ở nước tương đối ổn định
hơn ở không khí. Do có độ toả nhiệt và thu nhiệt lớn, các lớp nước ở trên mặt
và dưới sâu điều hoà nhiệt độ lẫn nhau trong quá trình lạnh đi hay bốc h ơi, làm
cho khối nhiệt độ của cả khối nước ít biến đổi.
Chế độ nhiệt của nước trong thuỷ vực biến đổi theo ba nhân tố chủ yếu: vĩ độ,
mùa vụ và độ sâu. Sự biến đổi nầy làm thay đổi trọng lượng riêng của nước ở
các vùng khác nhau, của các mùa và độ sâu khác nhau. Nhất là giữa tầng mặt
và tầng đáy, đều tạo nên hiện tương phân tầng nhiệt độ nước, chu chuyển
nước theo mùa trong các thuỷ vực nội địa và các dòng nước thẳng đứng ở hải
dương.
Ảnh hưởng của nhiệt độ nước trong thuỷ vực đối với thuỷ sinh vật rất lớn, có
tính chất quyết định đối với đời sống thuỷ sinh vật. Trong đời sống cá thể nhiệt
độ ảnh hưởng đến tốc độ trao đổi chất, hô hấp, dinh dưỡng, nhịp độ sinh sản và
phát triển của thuỷ sinh vật. Nhiệt độ cũng là nhân tố quyết định ảnh hưởng tới
biến động số lượng của thuỷ sinh vật trong thuỷ vực. Cùng với nồng độ muối,
chế độ nhiệt trong thuỷ vực quyết định sự phân bố theo vĩ độ, theo thuỷ vực,
theo độ sâu, theo mùa.
6. Nồng độ muối
Nước là dung môi hoà tan tốt các chất muối. Khi chảy qua các lớp đất, nước đã
hoà tan một lượng muối của đất trước khi đổ vào các thuỷ vực. Nước ở các
thuỷ vực trong thiên nhiên có nồng độ muối hoà tan rất khác nhau về nồng độ
muối tổng số cũng như thành phần ion. Về mặt thuỷ sinh học đối với mỗi loại
nồng độ và thành phần muối hoà tan của nước có một khu hệ thuỷ sinh vật đặc
trưng tương ứng. Căn cứ vào đó, người ta chia nước thiên nhiên thành bốn loại
chính: nước ngọt, nước lợ, nước mặn và nước quá mặn. Do quan niệm về đặc
tính của mỗi loại nước còn khác nhau, do các dẫn liệu dùng làm căn cứ phân
chia chưa thống nhất, nên giới hạn phân chia các loại nước thiên nhiên còn
chưa thống nhất. Trước hết là giới hạn của nồng độ muối hoà tan tổng số theo
các tác giả sau đây:

Phân loại nước Zernov(1934) Constantinov(1967)


Nước ngọt 0.2 - 0.5%o < 0.5%o
Nước lợ 0.5 - 1.6%o 0.5 -30.0%o
Nước mặn 16.0 - 47.0%o 30.0 - 40.0%o
Nước quá mặn > 47%o > 40%o

Nước ngọt có đặc tính là ít thành phần muối Clorite và ion Na, nhiều muối
sulfate, carbonate, ion Ca, Si, Mn, N, P và chất hữu cơ hoà tan. Thuỷ vực nước
ngọt có khu hệ thuỷ sinh vật đặc trưng, nhưng các vùng tương đối gần biển có
thể có một số thuỷ sinh vật nước lợ và nước mặn di nhập vào.
Nước lợ: Nồng độ muối của thủy vực rất bất ổn định, luôn luôn bị nước trong lục
địa chảy ra làm nhạt đi và nước từ ngoài hải dương tràn vào làm mặn lên.
Thành phần khu hệ thủy sinh vật vùng nước lợ rất phức tạp. Ngoài thành phần
loài nước lợ còn có các loài nước mặn và các loài từ vùng nước ngọt di nhập
vào theo biến đổi của nồng độ muối. Nước lợ còn được chia thành ba loại:

• Nước lợ nhạt : 0.5 - 5%o


• Nước lợ vừa : 5 -18%o
• Nươc lợ mặn : 18 -30 %o

Nước mặn chứa tới 60 nguyên tố hóa học. Trong thành phần có nhiều Clorite và
Na, ít Carbonate, Ca các hợp chất N, P, Si và chất hữu cơ hòa tan. Hàm lượng
chất vẩn cũng ít hơn. Thành phần khu hệ thủy sinh vật nước mặn rất đặc trưng,
ít khi có những loài nước ngọt hoặc nước lợ di nhập vào.
Chất hòa tan trong nước thiên nhiên bao gồm nhiều thành phần khác nhau. Có
thể chia thành ba nhóm lớn: Chất vô cơ hòa tan, chất hữu cơ hòa tan và chất
khí hòa tan.

• Chất vô cơ hòa tan trong nước tự nhiên gồm ba thành phần:


o Thành phần muối cơ bản là thành phần chủ yếu của chất vô cơ
hòa tan trong nước thiên nhiên, gồm có các muối Clorite, Sulfat
carbonat Hydrocarbonat, của Na, Ca, K, Mg. Thành phần nầy tồn
tại dưới dạng các ion chủ yếu Cl2 , SO4, HCO3, CO3, Na, K, Mg và
Ca.
o Các nguyên tố tạo sinh (Biogen) gồm các hợp chất vô cơ và hữu
cơ hòa tan của N, P và Si là chất cần thiết cho sự tạo thành cơ thể
sống. Thuộc vào nhóm nầy còn có thể kể một số muối khác như
Na, ca, K, Mg …gọi chung là các muối dinh dưỡng.. . N ở trong
nước dưới dạng các ion NH4, NO2 và NO3, hoặc ở dạng hữu cơ
hòa tan và không hòa tan trong nước. P cũng ở dạng vô cơ và hữu
cơ hòa tan hay không hòa tan trong nước. Dạng vô cơ trong nước
là H3PO4 và các dẫn xuất.
o Các nguyên tố vi lượng bao gồm các nguyên tố có hàm lượng rất
nhỏ, nhưng rất quan trọng đối với đời sống thủy sinh vật. Phổ biến
là : Fe, Ni, Pb, Cu, Mn, Co …

7. Chất khí hòa tan


Trong nước thiên nhiên có các chất khí hòa tan. Những chất khí thường gặp có
hàm lượng cao: O2, CO2, N2, CH4, S, H2S, NH3 …
Nguồn gốc của các chất khí :

• Từ không khí đi vào nước: O2, CO2, N2.


• Do quá trình sống của thủy sinh vật và các quá trình chuyển hóa vật chất
xảy ra trong thủy vực : CO2, CH4, H2S, NH3.
• Do quá trình phân giải khí và chuyển hóa ở các lớp đất sâu dưới tác dụng
của nhiệt độ và áp lực cao: CO2, CO, HCl, H2S, NH3….
Đối với nước trên mặt, nguồn gốc của khí hòa tan trong nước do hai nguồn gốc
trên là chủ yếu. Đối với nước ngầm, khí hòa tan trong nước do nguồn gốc thứ
ba là chủ yếu.

• Oxy (O2) :Oxy hòa tan trong thủy vực do từ không khí và từ hoạt động
quang hợp của thực vật ở tầng quang hợp. Lượng oxy nầy sẽ được tiêu
thụ trong quá trình hô hấp, trong các quá trình oxy hóa các chất trong thủy
vực. Oxy trong nước ở hàm lượng cao có thể thoát ra ngoài không khí.. Ở
nền đáy Oxy còn được chuyển hóa từ MnO khó hòa tan trong nước lắng
xuống đáy. Khi mất Oxy, chất nầy lại trở thành hợp chất Mn hòa tan, lấy
lại Oxy trong nước rồi lại lắng xuống đáy.
• Carbonic (CO2): Khí Carbonic cũng có từ không khí, từ hoạt động hô hấp
của thủy sinh vật và từ các quá trình phân hủy chất hữu cơ vào nước.
CO2 hòa tan trong nước được tiêu thụ trong quá trình quang hợp, trong
quá trình chuyển hóa thành HCO3 và CO3 và có thể thoát ra ngoài nước.

Hàm lượng O2 và CO2 trong nước các thủy vực phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.
Nhiệt độ nước và nồng độ muối càng cao, hàm lượng O2 và CO2 trong nước
càng giảm. Hàm lượng O2 và CO2 trong thủy vực còn biến đổi theo mùa, theo
ngày đêm, theo độ sâu theo hoạt động sống của thủy sinh vật và các quát trình
chuyển hóa vật chất hữu cơ trong thủy vực theo sự thay đổi đặc tính chuyển
động của khối nước.

• Hydrosulfure (H2S): H2S được hình thành do hoạt động của vi khuẩn thối
rửa phân hủy chất hữu cơ và vi khuẩn lưu huỳnh khử sulfate trong nước.
Loại thứ nhất thường gặp ở nước ngọt, loại thứ hai thường gặp ở biển và
hải dương nơi có nhiều sulfate. Đây là loại khí độc gây tác hại cho thủy
sinh vật.
• Methane (CH4): Hình thành do quá trình phân hủy celuloze ở đáy hồ, ao,
đầm lầy, rất ít khi gặp ở biển. CH4 cũng là khí độc đối với thủy sinh vật.

8. Độ pH và hiệu thế Oxy hóa khử


8.1. pH
Độ pH trong nước phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân và được coi là căn cứ để
xác định hàm lượng nhiều thành phần khác. Độ pH của một thủy vực biến động
theo ngày và đêm, theo độ sâu và theo mùa. Độ pH thay đổi làm thay đổi cân
bằng hệ thống hóa học trong nước, qua đó làm ảnh hưởng gián tiếp đến đời
sống thủy sinh vật.
8.2. Hiệu thế Oxy hóa khử (Eh)
Hiệu thế Oxy hóa khử (Eh) thể hiện mối quan hệ giữa hàm lượng chất Oxy hóa
và chất khử để thực hiện quá trình Oxy hóa khử trong nước ảnh hưởng đến đời
sống thủy sinh vật, nhất là vi sinh vật.
9. Chất hữu cơ
Trong thành phần nước tự nhiên, ngoài lượng chất hữu cơ trong sinh vật , còn
có các thành phần chất hữu cơ ở các dạng khác ngoài sinh vật : chất hữu cơ
hòa tan, chất vẩn và chất keo.
Thành phần chất hữu cơ nầy do hai nguồn:

• Nguồn ngoại lai: gồm các chất mùn, bã, các chất thải sinh hoạt, công
nghiệp từ ngoài trôi vào thủy vực.
• Nguồn nội tại : do các sinh vật trong thủy vực chết đi phân hủy thành.

Chất keo: một tập hợp phân tử các chất hữu cơ và vô cơ kết lại ở trạng thái keo
loại, lơ lững trong nước.
Chất vẩn : Một phức hợp gồm một giá thể hữu cơ, trên đó có nhiều thành phần
hữu cơ, vô cơ và cả sinh vật (vi khuẩn, tảo…)
Chất hữu cơ hòa tan ở trạng thái các acide amine hòa tan trong nước. Lượng
chất hữu cơ trong nước được xác định một cách gián tiếp bằng đơn vị mgO2/l.
Chất hữu cơ trong thủy vực là nguồn thức ăn cho thủy sinh vật, phần còn lại
lắng đọng xuống nền đáy tạo thành chất bùn đáy thủy vực.
10. Nền đáy thủy vực
Nền đáy thủy vực là điều kiện tồn tại và phát triển của khu hệ sinh vật đáy, đồng
thời là nơi ở, nơi ăn trong từng giai đoạn của nhiều sinh vật trong tầng nước.
Đặc tính của nền đáy phụ thuộc vào hai yếu tố: thành phần cơ học của nền đáy
và chất lắng đọng.
Thành phần cơ học của nền đáy do tính chất địa chất, thổ nhưỡng của nền đất
quyết định . Căn cứ vào tỷ lệ các hạt nhỏ có kích thước nhỏ hơn 0,01 mm cấu
thành nền đáy.

Phân chia Tỉ lệ hạt nhỏ


Nền đáy đá Không có hạt nhỏ
Nền đáy cát < 5%
Nền đáy cát bùn 5 -10%
Nền đáy bùn cát 10 -30%
Nền đáy bùn 30 -50%
Nền đáy bùn nhão > 50%
Chất lắng đọng thủy vực là nguồn vật chất hữu cơ tích tụ ở đáy thủy vực, là một
khâu trong chu trình vật chất, quyết định độ dinh dưỡng của thủy vực. Trong
từng thời gian, hàng mùa hay hàng năm, các vật chất hữu cơ lắng đọng sẽ tạo
thành từng tầng theo chiều thẳng đứng của nền đáy, phân biệt rõ rệt do thành
phần và số lượng khác nhau của lớp chất lắng đọng ứng với từng thời gian gọi
là vi tầng.
Chất lắng đọng hải dương do các vật chất từ lục địa đổ ra chủ yếu ở ven bờ và
do xác sinh vật hải dương. Trong nền đáy hải dương có thể phân thành mấy
loại chất lắng đọng sau:

• Bùn Globigerina
• Bùn thân mềm Pteropoda
• Bùn tảo khuê và
• Bùn đất sét đỏ

Chất lắng đọng đáy hồ có hai loại:

• Bùn mùn: do xác thực vật từ ngoài vào và


• Bùn thối do xác sinh vật trong hồ thối rửa và lắng xuống. Trong đó có các
dạng bùn tảo, bùn thực vật lớn và bùn cặn đá vôi. Bùn đá vôi ở đáy hồ ít
dinh dưỡng, nghèo chất hữu cơ, thưôøng gặp ở hồ nghèo dinh dưỡng.

Chương 3: Vấn Đề Ô Nhiễm Và Phòng Chống Ô Nhiễm


Trong Môi Trường Nước
Sự ô nhiễm các nguồn nước trên lục địa hiện nay là một trong những vấn đề ô
nhiễm trầm trọng nhất, đặc biệt là đối với các nước công nghiệp hóa. Ở Mỹ
người ta ước tính rằng 90% lượng nước sông được xem là phương tiện vận tải
các chất thải ra biển. Chỉ việc chống ô nhiễm phosphat cho vùng Ngũ hồ hàng
năm cũng đã tốn hết 500 triệu đô la. Ở Liên xô cũ, hơn 400.000km sông ngòi bị
ô nhiễm “mãn tính”. Ở Pháp, nơi các vấn đề về môi trường đã được quan tâm
tương đối sớm và nhà nước đã đầu tư nhiều cho việc phòng chống ô nhiễm ở
các sông ngòi, đặc biệt là những sông lớn như sông Sen, sông Ranh, sông Rôn
… nhưng cũng vẫn luôn ở trạng thái ô nhiễm đáng lo ngại.

Nguyên nhân và tác hại của nước bị ô nhiễm


1.1 Khái niệm về ô nhiễm môi trường nước
Thủy vực được coi là nhiễm bẩn khi thành phần hay trạng thái nước trong thủy
vực bị biến đổi do tác dụng của các hoạt động của con người tới mức hạn chế
việc sử dụng các nhu cầu khác nhau hoặc không sử dụng được nữa. Nguồn
gây ô nhiễm có thể là chất hữu cơ, chất độc hóa học, chất phóng xạ … Có thể
phân biệt hai loại ô nhiễm:
• Ô nhiễm sơ cấp là hiện tượng nhiễm bẩn trực tiếp do các chất thải từ
ngoài đưa vào.
• Ô nhiễm thứ cấp là là hiện tượng nhiễm bẩn gián tiếp từ nơi nầy sang nơi
khác trong một thủy vực hay từ thủy vực nầy sang thủy vực khác (do các
sinh vật chứa chất nhiễm độ, chất phóng xạ…) từ các vùng nhiễm bẩn lọt
vào gây nên sự ô nhiễm.

1.2 Nguyên nhân

• Do nước thải sinh hoạt từ các khu tập trung dân cư: Nước thải loại nầy
chứa nhiều chất hữu cơ, phân rác, vi khuẩn gây bệnh, trứng giun ,sán và
các sinh vật gây hại khác. Loại nước thải nầy phổ biến nhất.
• Do nước thải công nghiệp đổ vào. Loại nước thải nầy phức tạp về thành
phần. Tùy theo loại công nghiệp mà nước thải có thể chứa nhiều chất hữu
cơ chưa phân hủy (nhà máy thực phẩm), nhiều sợi celluloze, sude (nhà
máy giấy), sản phẩm dầu hỏa, muối độc vô cơ và hữu cơ( nhuộm, thuộc
da, hóa chất, luyện kim, than đá). Đây là loại nước thải gây hại lớn.
• Do hóa nông dược sử dụng trong nông nghiệp.
• Do chất phóng xạ từ không khí, từ chất thải khu công nghiệp nguyên tử,
tàu nguyên tử và thử vũ khí hạt nhân ở biển.
• Do dòng nước nóng thải ra từ nhà máy điện.

1.3. Tác hại

• Tác hại về cơ học: do lượng phân rác, chất vẩn, chất sợi có rất nhiều
trong nước thải, phủ kín cả nền đáy thủy vực làm cho thủy sinh vật nền
đáy không phát triển được. Ngoài tác hại cơ học, còn có tác hại do chế độ
khí hòa tan thay đổi và tác hại gây độc do chất hữu cơ phân hủy gây nên.
• Gây bệnh: nước thải từ khu dân cư, nhà máy chế biến thực phẩm, bia
chứa nhiều chất hữu cơ. Đó là môi trường tốt cho các loại vi khuẩn gây
bệnh, các loại trứng giun sán tồn tại và phát triển. thường là vi khuẩn gây
bệnh đường ruột. Nước thải từ bệnh viện, nếu không được xử lý thích
hợp có thể lan truyền các mầm bệnh nguy hiểm khác nữa.
• Gây độc: chủ yếu do chất thải công nghiệp gây nên. Trong nước thải loại
nầy có hai dạng chính: là hữu cơ và vô cơ. Chất hữu cơ như phenol, hắc
ín, aldehyde, sản phẩm dầu hỏa.. rất khó tan, lâu vô cơ hóa nên lan đi rất
xa. Chất vô cơ như muối Cu, As, Ni, Pb, Zn, Fe, và các loại acide vô cơ…
thường gây độc ở hàm lượng rất nhỏ.

Nồng độ gây chết (ppm)


Gốc Muối
Giáp xác Cá
As 0,25 - 2,5 10 -20
Pb > 0,5 10 -15
Cu 1 -100

Ngoài chất thải công nghiệp, nông dược cũng ảnh hưởng rất lớn đến thủy sinh
vật. Ngoài tác dụng trực tiếp chúng còn tích tụ trong cơ thể và những sinh vật
nầy sẽ trở thành tác nhân gây độc cho những sinh vật sử dụng chúng tiếp theo.

• Làm biến đổi chế độ khí hòa tan: Trong nước chứa nhiều chất hữu cơ hòa
tan phân hủy và chưa phân hủy, chúng cùng với các chất vô cơ oxy hóa
làm tăng quá trình oxy hóa trong thủy vực gây hiện tượng giảm thấp O2
và tăng CO2. Các chất khí H2S, CH4 … cũng gây độc cho thủy sinh vật.
• Tác hại phóng xạ: Tác hại của các tia phóng xạ xảy ra chủ yếu khi thủy
sinh vật ăn phải chất phóng xạ có trong nước lẫn trong thức ăn. Các tia
phóng xạ ngoài tác hại gây chết, chúng còn ảnh hưởng đến sự phát triển
của sinh vật ở giai đọan đầu như đẻ sớm, không phát triển hết các giai
doạn của thai…
• Tác hại của dòng nước nóng: Nước từ các nhà máy điện (nhiệt điện, thủy
điện, điện nguyên tử) thải ra gây một số tác hại như sau:
o Làm giảm lượng Oxy hòa tan trong nước.
o Làm biến đổi khu hệ thủy sinh vật, nhất là về thành phần loài thực
vật.
• Tác hại do sự phát triển quá mức của thủy sinh vật, do hàm lượng chất
dinh dưỡng tăng cao.

Xác định độ ô nhiễm của thủy vực


Nước trong thủy vực khi nhiễm bẩn sẽ biến đổi các đặc tính lý, hóa học cũng
như sinh học tùy theo mức độ nhiễm bẩn. Độ nhiễm bẩn của thủy vực phụ
thuộc vào số lượng và đặc tính nước đổ vào, ngoài ra còn phụ thuộc vào đặc
tính của thủy vực như nông hay sâu, nước chảy hây tĩnh, nhiệt độ cao hay thấp.
Để xác định độ nhiễm bẩn của thủy vực, người ta căn cứ vào chỉ tiêu lý học,
hóa học, sinh học và vi khuẩn học.
2.1. Chỉ tiêu lý học
Chủ yếu dựa vào mùi vị, màu sắc, độ trong, hàm lượng chất vẩn, màng nước
biến đổi để đánh giá mức độ ô nhiễm của nước.
2.2. Chỉ tiêu hóa học
Dựa vào hàm lượng chất hữu cơ không bền trong nước, hàm lượng Oxy hòa
tan, hàm lượng NH4+ và NO2, các muối hòa tan khác trong nước. Các muối
khoáng đóng vai trò chất ô nhiễm chính về mặt khối lượng cũng như về mặt tác
động sinh học của nước lục địa: như Natri clorua, Nitrat, Phosphat … Ngoài ra
còn có những kim loại nặng như: Cadimi, Thủy ngân, Chì, Kẽm, Vanadi… Các
hợp chất công nghiệp như: Asen, Xianua, Cromat … Nguồn nước lục địa bị ô
nhiễm thường xuyên hay chu kỳ bởi các hợp chất vô cơ hay hữu cơ có độ tính
cao với các kim loại nêu trên. Những chất hữu cơ bị phân hủy bằng con đường
Oxy hóa hóa học. Trong trường hợp nầy, người ta dùng đại lượng COD: nhu
cầu Oxy hóa học (Chemical Oxygen Demand) để đánh giá mức độ ô nhiễm của
nguồn nước.
2.3. Chỉ tiêu sinh học - vi sinh
Các nguồn nước lục địa bắt nguồn từ việc thải vào sinh quyển các chất thải
chứa các hợp chất hữu cơ có thể bị lên men và các tác nhân gây bệnh đồng
hành với chúng. Sự ô nhiễm nầy làm thoái biến, hủy hoại các hệ sinh thái nước
ngọt.
Một số các chất ô nhiễm hữu cơ bị phân hủy bởi vi khuẩn là những chất hữu cơ
có thể lên men bởi vi khuẩn ưa khí tham gia vào (hay gây ra). Quá trình phân
hủy Oxy hóa các hợp chất hữu cơ nầy tiêu thụ một lượng Oxy tương ứng.
Lượng Oxy nầy gọi là nhu cầu Oxy sinh hóa (Biochemical Oxygen Demand:
BOD). Trong thực tế người ta qui ước lấy lượng Oxy tiêu thụ sau 5 ngày, (ký
hiệu BOD5) làm tiêu chuẩn để để đánh giá mức độ ô nhiễm các hợp chất hữu
cơ của các nguồn nước.
Sự hiện diện của các vi khuẩn gây bệnh trong môi trường nước cũng là một tác
nhân gây ô nhiễm. Người ta thường căn cứ vào trực khuẩn đường ruột E.coli để
đánh giá. Chỉ tiêu nầy phản ánh tình trạng nước có phân người hay phân động
vật và khả năng có vi khuẩn gây bệnh của nước, chỉ tiêu nầy được xác định bởi
hai chỉ số:

• Chỉ số Coli (Coli - index) là số lương trực khuẩn có trong nước, nước
sạch có chỉ số nầy là 3 -10CFU/1ml, còn nước bẩn có thể lên đến
100.000CFU/1ml.
• Độ Coli (Coli - litre) là thể tích nước tối thiểu có chứa 1CFU trực khuẩn,
nước bẩn có hệ số nầy là 0,1 ml, còn nước sạch có hệ số nầy có khi là
100ml.

Ngoài trực khuẩn gây bệnh ra, còn có những thủy sinh vật khác. Trong đó mỗi
loại, mỗi nhóm sinh vật, - nhất là những sinh vật bậc thấp - thường chỉ gặp ở
nước có độ nhiễm bẩn nhất định do khả năng thích ứng với Oxy và độc tính
khác nhau của nước. Dựa trên nguyên tắc nầy, người ta xác định độ nhiễm bẩn
của thủy vực bằng cách căn cứ vào sự hiện diện của từng loài, từng nhóm sinh
vật chỉ thị. Trong phương pháp xác định sinh học hiện nay, đã phát triển những
xu hướng mới, không chỉ căn cứ vào thành phần loài sinh vật chỉ thị mà còn căn
cứ vào sự biến đổi về mặt sinh thái học, sinh lý học của những nhóm sinh vật
nhất định ứng với các mức độ nhiễm bẩn khác nhau của thủy vực.
Một số chỉ tiêu đánh giá độ ô nhiễm (Aliokin)

Độ ô nhiễm BOD5(mg/l) COD (mg/l) NH4 (mg/l)


Rất sạch 0,5 - 1 1 0,05
Sạch 1,1 - ,19 2 0,1
Hơi bẩn 2,0 - 2,9 3 0,2 - 0,3
Bẩn vừa 3,0 - 3,9 4 0,4 -1
Khá bẩn 4,0 - 4,9 5 -15 1,1 - 3
Rất bẩn 10 15 3

Sự ô nhiễm nước biển: Tuy rằng hầu hết các sông đều đổ ra biển, nghĩa là các
chất gây ô nhiễm các nguồn nước lục địa cũng là chất gây ô nhiễm nước biển.
Nhưng sự ô nhiễm của biển và đại dương có những đặc điểm riêng. Nếu như
mỗi con sông đều có một lưu vực riêng, nghĩa là sự ô nhiễm của nó phụ thuộc
vào đặc điểm địa phương thì biển và đại dương là cái túi cuối cùng chứa tất cả
các chất ô nhiễm từ tất cả địa phương trên trái đất… hơn nữa biển và đại
dương chiếm 3/4 diện tích trái đất, các biển và đại dương đều thông với nhau,
sự có mặt của các dòng hải lưu và hoạt động giao thông đường biển ngày càng
phát triển làm cho sự ô nhiễm biển và đại dương mang tính toàn cầu rõ rệt. Yếu
tố quan trọng nhất gây ô nhiễm ở biển hiện nay là hiện tượng ô nhiễm do dầu
mỏ. Các vụ “thủy triều đen” là tác động của sự ô nhiễm dầu mỏ lên các sinh vật
biển. Ngoài ra còn có hiện tượng “thủy triều đỏ” do tảo đỏ nở hoa quá mức, gây
ô nhiễm môi trường biển và đại dương.

Phân loại môi trường nước ô nhiễm


Việc xác định độ nhiễm bẩn của thủy vực có tầm quan trọng thực tiễn lớn. Căn
cứ vào kết quả xãc định, người ta đánh giá mức độ nhiễm bẩn của từng thủy
vực và kết luận về giá trị sử dụng của từng loại nước. Để tiện đánh giá độ
nhiễm bẩn của từng thủy vực, người ta xây dựng những hệ thống phân loại và
chúng được căn cứ vào những dẫn liệu tổng hợp, nhiều chỉ tiêu khác nhau của
nước bị nhiễm bẩn. Các hệ thống phân loại được xây dựng rất nhiều. Trong đó
hệ thống phân loại được biết và sử dụng nhiều là hệ thống phân loại của
Kolkwitz - Marsson (1902), sau nầy được nhiều tác giả khác bổ sung. Thủy vực
nhiễm bẩn được chia thành bốn loại
3.1. Rất ô nhiễm (polysaprobe)
Thủy vực có rất nhiều chất hữu cơ ở giai đoạn phân hủy đầu tiên, không có
thực vật quang hợp, không có Oxy hòa tan, nhưng có nhiều CO2, CH4, H2S,
thực vật lớn kém phát triển, nấm hoại sinh và các vi khuẩn yếm khí phát triển
mạnh với số lượng rất cao (triệu CFU /ml), sinh vật chỉ thị là Paramoecium,
Vortycella, Tubifex…
3.2. Ô nhiễm vừa(mesossaprobe)
Loại nầy chia làm hai bậc:

• Alpha mesossaprobe: xuất hiện các dạng protein bị phân hủy ở giai đoạn
trung gian như polypeptid, acide amin, NH4, môi trường đã có oxy hòa
tan, số lượng vi khuẩn khá cao( hàng trăm ngàn CFU/ml), đã có tảo lục,
tảo lam xuất hiện. Sinh vật chỉ thị là Oscillatoria,Euglena, Rotatoria,
Chironomus..
• Beta mesossaprobe : Ở dạng bẩn nầy có NO2, NO3, có nhiều Oxy, số
lượng vi khuẩn chỉ có hàng chục ngàn CFU/ml, có cây xanh, tảo khuê,
sinh vật chỉ thị là Melosira, Navicula, Spirogyra, Moina,Cyclops…

3.3 Ô nhiễm ít (Oligosaproble)


Nước chứa rất ít chất hữu cơ, NO2, NO3, NH4 rất ít, hàm lượng oxy cao, khu
hệ sinh vật phong phú, đa dạng, số lượng vi khuẩn chỉ vài ngàn CFU/ml, sinh
vật chỉ thị là Cladocera, cá kinh tế.
Tóm lại hệ thống nầy chỉ nói đến mức nhiễm bẩn hữu cơ, chưa thể hiện mức
nhiễm độc của nước, các tác giả khác đưa ra hệ thống phân loại khác bổ sung
thêm như:

• Zhdin (1964) : xây dựng hệ thống phân loại căn cứ vào độ nhiễm bẩn và
nhiễm độc, lấy sinh vật chịu độc, có khả năng tích tụ và bài tiết chất độc
làm sinh vật chỉ thị. nước được chia ra làm các dạng như bẩn (saproble)
độc (toxible), bẩn độc (saprotoxxible), riêng nước nhiễm độc được chia
làm các dạng như : oligo, meso, poly và hypertoxible.
• Slodecek ( Tiệp Khắc, 1963) xây dựng hệ thống phân loại chi tiết hơn và
chia nước tự nhiên thành bốn nhóm là : nước sạch (Kataroble), nước
nhiễm bẩn (Limnosaproble), nước bẩn do chất hữu cơ (Eusaproble),
nước bẩn không do hữu cơ (Transaproble). Trong nhóm nầy cũng chia
các loại như nước có chất độc (Antisaproble), nước có phóng xạ
(Radiosaproble)nước bẩn do lý học , ví dụ : nhiệt (Cryptosaproble).

Việc xây dựng các hệ thống phân loại nước ngày càng chi tiết, phản ảnh đầy đủ
đặc tính và hiện tượng nhiễm bẩn của nước tự nhiên trên thế giới.

Khả năng tự lọc sạch nước trong thủy vực


Hiện tượng nước nhiễm bẩn làm thành phần nước biến đổi một cách đột xuất,
vượt ngoài phạm vi tự nhiên . Hiện tượng nước bị nhiễm bẩn dần dần tái lập
trạng thái ban đầu khi chưa bị nhiễm bẩn gọi là khả năng tự lọc sạch nước của
thủy vực. Khả năng nầy rất lớn ở nơi nước chảy mạnh như sông suối…và kém
ở nơi nước tĩnh như ao, hồ.
Khả năng tự lọc sạch nước của thủy vực rất quan trọng trong tự nhiên, nhưng
khả năng nầy chỉ có hạn, không giải quyết nổi trường hợp nhiễm bẩn nặng và
liên tục.
Trong quá trình lọc sạch nước , thủy sinh vật giữ một vai trò quan trọng. tham
gia vào quá trình nầy chủ yếu là các vi sinh vật, thực vật quang hợp, các động
vật ăn chất vẫn hữu cơ, các động vật có khả năng tích tụ chất độc. sinh vật lọc
sạch nước thông qua các quá trình
1. Vô cơ hóa chất hữu cơ:
Đây là quá trình biến đổi chủ yếu trong hiện tượng tự lọc sạch nước do tác dụng
của sinh vật, đặc biệt là vi sinh vật. Chúng tham gia phân hủy protit qua các
dạng trung gian cho tới các dạng hữu cơ như NO2, NO3, NH4 … Quá trình vô
cơ hóa chất hữu cơ trong nước còn được tiến hành nhờ hoạt động hô hấp của
thủy sinh vật, quá trình Oxy hóa chất hữu cơ trong nước. Các hoạt động nầy
tiến hành được là nhờ Oxy trong môi trường nước. Hàm lượng Oxy phụ thuộc
vào chế độ nước chảy và hoạt đông quang hợp của cây xanh trong nước. Như
vậy ở những thủy vực có hoạt đông quang hợp của thực vật thủy sinh mạnh hay
thủy vực nước chảy, khả năng tự lọc sạch nước tiến hành thuận lợi hơn. Quá
trình vô cơ hóa chất hữu cơ cũng nhờ vào sinh vật ăn chất hữu cơ trong nước.
Một phần chất hữu cơ nầy được dùng cho sinh trưởng, một phần bị vô cơ hóa..
Ví dụ ấu trùng Chironomus plumosus.
2. Tích tụ chất bẩn và độc trong nước:
Khả năng tích tụ chất bẩn và chất độc của thủy sinh vật có tầm quan trọng trong
việc loại khỏi vùng nước nhiễm bẩn các chất độc và phóng xạ trong quá trình tự
lọc sạch nước. Nhiều loại thủy sinh vật có khả năng tích tụ các muối kim loại.
Hàm lượng kim loại trong cơ thể chúng cao hơn ở ngoài nước rất nhiều. Các
loại thân mềm có khả năng tích tụ muối Co, Cd, Cu, sứa tích tụ muối Zn, trùng
phóng xạ tích tụ muối Sr. Các chất phóng xạ cũng được thủy sinh vật phù du
tích tụ (thực vật nổi có khả năng tích tụ nhiều hơn động vật nổi), khi chết lắng
xuống đáy sẽ bị đất hấp thụ, không trở lại nước nữa, đối với các chất phóng xạ
có thời gian tự phân hủy ngắn như Itrium - 91, Cerium - 144. Những chất độc và
phóng xạ có thời gian phân hủy lâu như ĐT, Sr -90 chúng trở thành tác nhân
truyền các chất độc nầy sang người hay sinh vật khác khi sử sụng chúng.
3. Loại bỏ chất độc ra khỏi tầng nước
Thủy sinh vật ăn chất hữu cơ rồi thải ra ngoài ở dạng phân lắng xuống đáy.
Tham gia hoạt động nầy có nhiều nhóm động vật không xương sống ăn kiểu lọc
và lắng như thân mềm hai mảnh vỏ, giáp xác, da gai, hải tiêu, ấu trùng côn
trùng, Trong đó thân mềm hai vỏ có vai trò quan trọng nhất như vem Mytilus, trai
nước ngọt Anodonta piscinalis, giáp xác Calanus finmarchicus. Ở thủy vực
nước ngọt có Cladocera, Copepoda cũng có hoạt động tương tự.

Xử lý nước ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước sạch


Nguồn nước ngọt là một trong những yếu tố cơ bản nhất trong quá trình phát
triển cơ thể con người, động vật, thực vật và thủy sinh vật nước ngọt . Nước
ngọt là yếu tố không thể thiếu trong trong phát triển kinh tế, xã hội của mọi quốc
gia. Theo đà phát triển của nhân loại, nhu cầu nước ngọt cho sinh hoạt, sản
xuất công, nông nghiệp, giao thông ngày càng tăng. Trong sinh hoạt, do nhu
cầu hàng ngày của người dân ngày càng cao (ở châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản,
lượng nước cho mỗi người dân trên 200 lít/người/ngày, ở tp Hồ Chí Minh, Hà
Nội -1995 - đạt độ 80 -100lít/người/ngày, cao hơn 20% so với những năm
1980), Đồng thời việc tăng nhanh dân số thế giới (độ 1,7 -1,8% hàng năm)
lượng nước ngọt sử dụng cho sinh hoạt tăng nhanh chóng. Trong nông nghiệp,
công nghiệp nhu cầu nước cũng tăng nhanh theo việc sản xuất. Điều cần nhấn
mạnh là toàn bộ nước cấp cho sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ sau
khi sử dụng đều trở thành nước thải. Nước thải đã bị ô nhiễm với các mức độ
khác nhau và lại được đưa vào môi trường. Nguồn gây ô nhiễm môi trường
nước quan trọng nhất là nước thải. Nước thải sinh hoạt và nước thải công
nghiệp đều chứa tác nhân độc hại, gây suy thoái chất lương nước sông, hồ và
nước ngầm. Vì vậy việc xử lý nước thải là tối cần thiết trong công tác bảo vệ tài
nguyên nước.
1. Xử lý nước thải
1.1 Phương pháp xử lý theo nguyên tắc sinh học
Có ba nhóm phương pháp xử lý nước thải theo nguyên tắc sinh học. Tùy điều
kiện cụ thể(tính chất, khối lượng nước thải, khí hậu, địa hình, mặt bằng, kinh phí
…) người ta dùng một trong những phương pháp sau đây hoặc kết hợp với
nhau để xử lý nước thải

• Các phương pháp hiếu khí (aerobic)

Phương pháp dùng các loại vi khuẩn hiếu khí sử dụng oxy hòa tan trong nước
để phân hủy chất hữu cơ thành chất vô cơ.

Chất hữu cơ + O2 (vi sinh) = H2O + CO2 + Năng lượng


Chất hữu cơ + O2 (vi sinh) = Tế bào mới
Tế bào + O2 (năng lượng) = H2O + CO2 + NH3

Tổng cộng : Chất hữu cơ + O2 = H2O + CO2 + NH3

• Phương pháp hiếu khí, amoniac cũng được loại bỏ bằng phản ứng Oxy
hóa nhờ vi sinh vật tự dưỡng (quá trình Nitrit hóa)

2NH4+ 3O2 (Nitrobacter) = 2NO2 + 4H+ +2H2O + năng lượng


2NO2 + O2 (Nitrosomonas) = 2NO3 -
Tổng cộng : NH4+ + 2O2 (Nitrobacter) = NO3- + 2H+ + H2O + năng lượng

• Các phương pháp thiếu khí (anoxic) hay khử nitric hóa
Phương pháp này được sử dụng để loại nitơ ra khỏi nước thải theo nguyên tắc
khử Nitric hóa do điều kiện môi trường nước thiếu Oxy hòa tan, Oxy được giải
phóng từ Nitrat sẽ Oxy hóa chất hữu cơ. Nitơ và khí Carbonic sẽ được tạo
thành.
NO3- (vi khuẩn) = NO2 + O2
O2 (chất hữu cơ) = N2 + CO2 + H2O.

• Các phương pháp kỵ khí (anaerobic)

Phương pháp xử lý kỵ khí dùng loại bỏ các chất hữu cơ trong phần cặn của
nước thải bằng vi sinh vật tùy nghi và vi sinh kỵ khí. Như các phương pháp lên
men kỵ khí : Lên men acide, lên men mêtan.
1.2. Xử lý nước thải theo phương pháp vật lý, hóa học
Các phương pháp xử lý sinh học được sử dụng với hiệu quả cao để xử lý chất
hữu cơ kém bền vững, nhưng ít hiệu quả đối với nước thải công nghiệp chứa
các chất vô cơ độc hại (kim loại nặng, acíe, baz) hoặc các chất hữu cơ bền
vững (các Clobenzen, PCB, Phenol…)và cũng ít hiệu quả với một số loại vi
khuẩn. Trong trường hợp đó, cần kết hợp phương pháp xử lý sinh học với các
phương pháp lý, hóa học. Năm phương pháp lý, hóa thường dùng trong xử lý
nước thải là :

• Phương pháp lắng và đông tụ để loại bỏ các chất rắn lơ lững.


• Phương pháp hấp thu: Hấp thu chất ô nhiễm tan trong nước lên bề mặt
một số chất rắn như than hoạt tính, than bùn…
• Phương pháp trung hòa các acide hoặc baz.
• Phương pháp chiết tách.
• Phương pháp Clo hóa để diệt vi trùng và phân hủy chất độc.

2. Bảo vệ nước sạch trong tự nhiên


Bảo vệ nguồn nước sạch tự nhiên là vấn đề đã được đặt ra từ lâu. Trước hết là
ở các nước sớm bị nạn ô nhiễm thủy vực. Để bảo vệ tốt các nguồn nước sạch
tự nhiên, đảm bảo cung cấp đủ nước dùng cho nhu cầu đời sống và sản xuất
ngày càng tăng, ngoài các biện pháp về luật pháp và tổ chức, nhiều vấn đề còn
phải đặt ra cho các ngành khoa học liên quan, trong đó có thủy sinh vật học.
Vấn đề chủ yếu là xác định chính xác đặc tính của từng loại nước thải và có
biện pháp xử lý nước thải tốt, hạn chế và ngăn chặn tình trạng ô nhiễm các
nguồn nước sạch tự nhiên.
Vấn đề hiện nay là xác định hàm lượng cho phép của từng loại chất độc trong
nước dùng, phân loại nước thải có chất độc, xác định sinh vật chỉ thị chất độc,
vai trò của sinh vật trong quá trình tự lọc sạch chất độc trong nước.
Chương 4: Năng Suất Sinh Học Của Thủy Vực Và Đời
Sống Cá Thể Thủy Sinh Vật

Năng suất sinh học

Thủy vực với thủy sinh vật sống trong nước có thể coi như một hệ thống sinh
thái luôn luôn vận động trong mối quan hệ trao đổi chất và năng lượng với môi
trường bên ngoài.

Chu trình vật chất trong thuỷ vực

1 Định nghĩa:
Chu trình vật chất trong thủy vực là quá trình tạo thành, phân hủy rồi lại tạo
thành vật chất, từ dạng vô cơ sang dạng hữu cơ tạo nên một chu trình vật chất
diễn ra không ngừng trong thủy vực. Chu trình nầy thể hiện sự tác động qua lại
giữa thuỷ sinh vật và thuỷ vực, giữa thuỷ vực và môi trường ngoài thuỷ vực.
Trong chu trình luôn luôn có một bộ phận của sinh cảnh (muối hoà tan, chất hữu
cơ hoà tan, thức ăn v.v…) chuyển hoá thành thuỷ sinh vật (các sản phẩm sơ
cấp và thứ cấp) đồng thời lại có một bộ phận của thuỷ sinh vật chuyển hoá
thành sinh cảnh qua quá trình phân huỷ xác thuỷ sinh vật và quá trình trao đổi
chất (khí Oxy, CO2, chất tiết v.v..) của thuỷ sinh vật. Nghiên cứu chu trình vật
chất trong thuỷ vực là cơ sở để nghiên cứu các vấn đề về năng suất sinh học
của thuỷ vực.
Ở bước khởi đầu, chu trình vật chất trong thuỷ vực tiến hành được là nhờ có
nguồn năng lượng từ bên ngoài, chủ yếu nhờ hoạt động quang hợp, một phần
nhỏ hơn nhờ hoạt động hoá tổng hợp. Nhờ nguồn năng lượng nầy từ cơ sở vật
chất vô cơ có nguồn gốc từ bên trong và bên ngoài thuỷ vực (Oxy, CO2, muối
dinh dưỡng, nước) hình thành nên những thuỷ sinh vật ở bậc dinh dưỡng thấp
nhất làm cơ sở cho sự hình thành các thuỷ sinh vật ở các bậc ngày càng cao.
Đồng thời, từ các sản phẩm được hình thành nầy (động vật, thực vật) lại có một
quá trình chuyển hoá ngược lại. Quá trình phân huỷ xác các thuỷ sinh vật nầy
nhờ hoạt động của các sinh vật phân huỷ (vi khuẩn trong thuỷ vực) và quá trình
phân huỷ chất hữu cơ trong cơ thể thuỷ sinh vật, trong hoạt động sống của
chúng. Từ đó, tạo nên một dòng vật chất ngược lại từ các chất hữu cơ phân tử
cao theo con đường vô cơ hoá trở lại các dạng vật chất vô cơ ban đầu. Trong
quá trình phân huỷ có một phần vật chất bị tách khỏi chu trình chuyển hoá trong
một thời gian hay vĩnh viễn không tham gia trở lại vào chu trình vật chất trong
thuỷ vực nữa. Phần vật chất nầy sẽ được tích tụ ở các nơi dự trữ trong hay
ngoài thuỷ vực. Thí dụ: khí Oxy, Carbonic có thể thoát ra ngoài nước của thuỷ
vực vào khí quyển. Các chất hữu cơ đang bị phân huỷ có thể lắng xuống và bị
vùi lấp dưới nền đáy …
2. Đặc tính của chu trình vật chất
(Hình)
Chu trình chuyển hoá vật chất trong thuỷ vực thể hiện ở số lượng vật chất (ở
mức độ nguyên tử và phân tử tham gia vào các dòng chuyển hoá vật chất, ở tốc
độ chuyển hoá vật chất trong chu trình tạo thành và phân huỷ) và ở kiểu chu
trình.
Tuỳ theo đặc tính địa hình và thuỷ học, chu trình vật chất trong thuỷ vực có các
kiểu sau:

• Kiểu vòng là chu trình mà trong đó mỗi vòng của chu trình được tiến hành
trên cơ sở lượng vật chất được tạo thành ở ngay nơi đó trong vòng trước
của chu trình (chu trình vật chất trong ao, hồ…).
• Kiểu xoắn ốc là chu trình mà trong đó lượng vật chất được tạo thành
trong vòng đầu của chu trình do chuyển động của khối nước mà được
chuyển tới nơi khác trong thuỷ vực, cộng với lượng vật chất từ bên ngoài
vào mà tiến hành một vòng chuyển hoá vật chất mới (chu trình vật chất
trong sông, trong hải dương nơi có dòng chảy ngang…).

Đặc tính cơ bản của chu trình chuyển hoá vật chất và năng lượng trong thuỷ
vực là càng tạo thành nhiều bậc dinh dưỡng cao trong chu trình thì lượng vật
chất và năng lượng càng giảm đi. Nói cách khác là lên tới bậc cao nhất trong
chu trình thì lượng vật chất đã bị hụt đi nhiều so với lượng vật chất được tạo
thành ban đầu. Sự hao hụt vật chất và năng lượng nầy do hoạt động sống của
thuỷ sinh vật trong quá trình phân huỷ và tích tụ.
Quần xã sinh vật trong thuỷ vực càng đa dạng (số loài càng nhiều) chuổi thức
ăn càng dài, lượng thông tin càng lớn, thì vật chất và năng lượng càng bị hao
hụt nhiều trong quá trình vận động của hệ sinh thái. Theo tính toán, cứ mỗi lần
chuyển từ một bậc dinh dưỡng tới bậc dinh dưỡng tiếp sau, năng lượng lại
giảm đi 10 -15 lần.
Nhìn tổng quát có thể thấy trong chu trình vật chất của thuỷ vực có ba quá trình
vận động cơ bản : tạo thành, phân huỷ và tích tụ. Ba quá trình nầy có quan hệ
qua lại chặt chẽ với nhau và chính đặc tính của mối quan hệ giữa ba quá trình
nầy quyết định khả năng của thuỷ vực sản sinh ra chất sống bao hàm trong các
thuỷ sinh vật . Nó quyết định chiều hướng phát triển của thuỷ vực giàu lên hay
nghèo đi về mặt sản phẩm sinh vật, là các đối tượng có quan hệ trực tiếp tới đời
sống con người.
3. Năng suất sinh học (Bio-productivity)
Năng suất sinh học của thủy vực là khả năng sản sinh ra chất sống dưới dạng
các thủy sinh vật làm tăng khối lượng sinh vật trong thủy vực. Khả năng nầy
được thể hiện trước hết ở quá trình tạo thành nhưng có liên quan phụ thuộc với
với tất cả các khâu khác trong toàn bộ chu trình chuyển hóa vật chất trong thủy
vực.
Năng suất sinh học của thủy vực cao hay thấp một mặt tùy thuộc ở khả năng
sinh trưởng và sinh sản của quần thể thủy sinh vật tự dưỡng hay dị dưỡng. Mặt
khác tùy thuộc ở khả năng bảo đảm các điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và
phát triển chất sống, tạo nên khối lượng sinh vật mới của thủy vực.

Các khái niệm xác định năng suất sinh học trong thuỷ vực

Để nghiên cứu năng suất sinh học của thủy vực, cần phải nghiên cứu các đặc
tinh định tính và định lượng của các quần thể thủy sinh vật, các điều kiện của
môi trường sống, nhịp sinh trưởng và phát triển, biến động số lượng và đặc tính
sinh học của sinh vật trong thủy vực. Để xác định cụ thể khả năng sản sinh ra
chất sống, tạo ra khối lượng sinh vật mới của thủy vực. Về mặt định lượng, thủy
sinh học sử dụng một số khái niệm để đánh giá lượng sinh vật trong thủy vực.
1. Khối lượng sinh vật (sinh vật lượng - Biomasse)
Khối lượng sinh vật hay sinh vật lượng của thủy vực là lượng sinh vật có trong
thủy vực, xác định được bằng các phương pháp định lượng ở mỗi thời điểm
nhất định nào đó.
Khối lượng sinh vật trong thủy vực biến đổi qua các thời điểm phụ thuộc vào sự
biến đổi số lượng các quần thể thủy sinh vật sống trong thủy vực.
Khối lượng sinh vật được tính theo chất tươi, chất khô, hay định hình. Đơn vị
thường dùng để tính toán khối lượng sinh vật là g/l, g/m3, g/m2, kg/ha hay
tấn/ha.
2. Sản lượng sinh vật (Production)
Sản lượng sinh vật của thủy vực là lượng chất sống do sinh vật sản sinh ra, thể
hiện ở độ tăng khối lượng sinh vật trong một khoảng thời gian nhất định nào đó
(ngày đêm, năm…) trong thủy vực.
Sản lượng sinh vật được tính theo chất tươi hay chất khô hoặc có thể tính gián
tiếp theo lượng carbon hấp thu, lượng Oxy phóng thích ra trong quá trình quang
hợp hay độ calo tương ứng của chất sống sản sinh ra trong một khoảng thời
gian nào đó. Đơn vị tính sản lượng sinh vật của thủy vực là gC/m2, gO2/m2,
Kcal/m2 trong ngày hay trong năm, g/m2 hay g/m3 vật tươi hay khô trong năm.

P (t2 - t1) = B(t2) - B(t1) + P’

Với

• P (t2-t1) : là sản lượng sinh vật trong khoảng thời gian (t2-t1).
• B(t1) và B(t2) : khối lượng sinh vật ở thời điểm t1 và t2.
• P’ : khối lượng sinh vật hao hụt trong khoảng thời gian (t2-t1)

3. Hệ số P/B
Hệ số P/B là khái niệm dùng để thể hiện mối liên quan giữa sản lượngvà khối
lượng sinh vật của một quần thể sinh vật hay một thủy vực, đó là sản lượng
sinh vật của một đơn vị khối lượng sinh vật trong khỏang thời gian nhất định
thường là một năm, có thể gọi đó là sản lượng sinh vật riêng.
Hệ số P/B biến đổi phụ thuộc vào nhiều nhân tố như : đặc tính thành phần loài,
đặc điểm sinh trưởng và phát triển của thủy sinh vật.
Hệ số P/B (tính theo tháng) ở một nhóm sinh vật nước ngọt giảm dần khi kích
thước trung bình của chúng tăng lên (Shuskina 1967) như kết quả ở bảng sau:

Bảng 1: Hệ số P/B ở một số nhóm sinh vật nước ngọt

Nhóm sinh
Protozoa Rotatoria Cladocera Copepoda
vật
P/B 10 - 30 10 -30 2,5 - 5 1-5
Theo Greze (1971) thì kết quả nghiên cứu hệ số P/B ở sinh vật biển cũng tương
tự như ở nước ngọt, nghĩa là sinh vật có kích thước trung bình càng cao thì hệ
số P/B càng thấp, kết quả trình bày trong bảng 2.

Bảng 2: Hệ số P/B ở một số nhóm sinh vật biển (theo Greze)

Nhóm động vật Hệ số P/B


Copepoda 0,06 -0,16
Cladocera 0,19
Amphipoda 0,008 - 0,037
Chaetognatha 0,21 - 0,31
Mollusca 0,004 - 0,01
Appendicularia 0,32
Pisces 0,0006 - 0,008

4. Một số khái niệm khác


• Nguồn lợi sinh vật là bao gồm tất cả sinh vật có khả năng là đối tượng
khai thác của thuỷ vực.
• Sản phẩm sinh vật là từng loại sinh vật cụ thể (động vật, thực vật) thường
là các loại có giá trị sử dụng có trong thuỷ vực, toàn bộ sản phẩm sinh vật
tạo nên nguồn lợi sinh vật của thuỷ vực.
• Sản phẩm khai thác là các đối tượng sinh vật có giá trị khai thác trực tiếp
hay gián tiếp, phục vụ cho lợi ích con người, hiện đang được khai thác.
• Sản phẩm thu hoạch là lượng sinh vật thu hoạch được bằng phương tiện
đánh bắt, gây nuôi trong một khoảng thời gian nào đó từ thuỷ vực.
• Sản lượng sinh vật sơ cấp là lượng chất sống dưới dạng thực vật, do
thực vật tự dưỡng tạo nên, tổng hợp từ các vật chất vô cơ nhờ quang
hợp.
• Sản lượng sinh vật thứ cấp là chất sống dưới dạng động vật do động vật
dị dưỡng tạo nên, trong quá trình tạo thành có sử dụng các sản phẩm sơ
cấp làm thức ăn.

5. Cách xác định sản lượng sinh vật trong thuỷ vực

• Sản lượng sinh vật sơ cấp (Primary productivity):

Đây là khâu thứ nhất trong quá trình sinh sản ra vật chất hữu cơ trong thuỷ vực.
Bước chuyển hoá của vật chất trong thuỷ vực từ vô cơ thành vật chất hữu cơ
nhờ quá trình quang hợp của thực vật trong nước. Sản lượng sinh vật sơ cáp
của thuỷ vực là khâu quan trọng, quyết định năng suất sinh học của thuỷ vực là
cơ sở của các quá trình tạo thành chất sống ở các bậc cao hơn.
Sản phẩm sinh vật sơ cấp được tạo nên do hoạt động quang hợp của thực vật
ở nước, do đó việc xác định sản lượng sơ cấp của thuỷ vực cũng dựa trên cơ
sở tính toán cường độ quang hợp của thực vật trên từng đơn vị diện tích của
mặt nước hay đơn vị của khối nước ở các tầng nước khác nhau.
Cần phân biệt rõ hai khái niệm là

• Cường độ quang hợp thể hiện khả năng sản sinh ra chất hữu cơ của thực
vật trên một đơn vị khối lượg của chúng.
• Sản lượng sinh vật sơ cấp thể hiện khả năng sản sinh ra chất sống của
một thể tích nước..

Sản lượng sinh vật sơ cấp mang hai ý nghĩa ở hai mức độ khác nhau:

• Sản lượng sơ cấp toàn phần là toàn bộ bộ chất hữu cơ được thực hiện và
có trong một khối nước tạo thành.
• Sản lượng sơ cấp thực tế là sản lượng sơ cấp toàn phần trừ đi phần chất
hữu cơ tiêu hao trong quá trình trao đổi chất của thực vật.

Có nhiều phương pháp xác định sản lượng sinh vật sơ cấp
• Phương pháp bình sáng tối : xác định lượng Oxy của thực vật có trong
một thể tích nước phóng thích ra trong quá trình quang hợp, trong khoảng
thời gian nghiên cứu.(ngày, đêm).
• Phương pháp xác định sản lượng sơ cấp căn cứ vào lượng chất diệp lục
có trong thực vật.
• Phương pháp tính số lượng C14 phóng xạ dưới dạng Bicarbonat hay
Carbonat được thực vật hấp thụ trong thời gian nghiên cứu từ đó suy ra
lượng C đã được thực vật hấp thụ.

Sản lượng sinh vật sơ cấp phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó quan trọng
nhất là hàm lượng muối dinh dưỡng cần cho sự sinh trưởng, phát triển của thực
vật, số lượng, thành phần loài, độ tập trung của thực vật và chế độ chiếu sáng
trong tầng nước. Ngoài ra chế độ nhiệt, nồng độ muối cũng ảnh hưởng đến
năng suất nầy.

• Sản lượng sinh vật thứ cấp (Secondary productivity)

Các sản phẩm sơ cấp của thuỷ vực được tạo thành một phần sẽ bị phân huỷ,
một phần sẽ được các động vật ăn, nghĩa là chuyển sang tham gia vào quá
trình tạo thành các sản phẩm thứ cấp của thuỷ vực ở các bậc dinh dưỡng tiếp
sau dưới dạng động vật dị dưỡng.
Số lượng bậc tuỳ thuộc vào đặc điểm cấu trúc quần loại thuỷ sinh vật, trước hết
là thành phần loài và quan hệ thức ăn. Mỗi bậc của quá trình tạo thành sản
phẩm thứ cấp trong thuỷ vực lại có giá trị khác nhau về mặt chuyển hoá vật chất
và năng lượng. Bậc càng cao thì số lượng vật chất và năng lượng bị tiêu hao
càng lớn, sản lượng sinh vật thứ cấp ở các bậc tiếp sau càng giảm đi về số
lượng nhưng được nâng cao chất lượng.
Xác định sản lượng sinh vật thứ cấp là vấn đề rất phức tạp. Hiện nay do đặc
tính sinh học và sinh thái học của động vật rất khác nhau, nhất là quá trình sinh
trưởng và phát triển. Vì vậy không có phương pháp nghiên cứu chung cho các
nhóm động vật.

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sinh học trong thuỷ vực

Năng suất sinh học của thuỷ vực có liên quan và được quyết định trước tiên bởi
đặc điểm của chu trình vật chất trong thuỷ vực. Năng suất sinh học có thể cao
hay thấp, nghĩa là thuỷ vực có thể sản sinh ra được nhiều hay ít sản phẩm sơ
cấp hay thứ cấp là tuỳ thuộc ở điều kiện của thuỷ vực có đảm bảo hay không
đảm bảo sự cân bằng được sự cân bằng của ba quá trình tạo thành, phân huỷ
và tích tụ hay không (trước hết là quá trình tạo thành). Ba quá trình nầy có liên
quan chặt chẽ với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Vì vậy một khâu nào yếu cũng
sẽ ảnh hưởng tới cân bằng vật chất và năng lượng của thuỷ vực. Do đó ảnh
hưởng đến năng suất sinh học của thuỷ vực.
Mặt khác thuỷ vực vừa là một yếu tố cảnh quan (dùng như nền đất và tầng
không khí) nhưng đồng thời cũng là môi trường sống của thuỷ sinh vật. Do đó
xét các nhân tố quyết định năng suất sinh học của thuỷ vực, trước hết phải xét
các nhân tố bảo đảm tới mức cao nhất sự phát triển thuận lợi của đời sống thuỷ
sinh vật, đặc biệt đối với các sinh vật có tầm quan trọng trong khai thác, phục vụ
đời sống con người. Các nhân tố nầy rất nhiều và tác dụng tới đời sống sinh vật
như một phức hệ nhân tố, chứ không riêng rẽ. Tuy trong đó có các nhân tố chủ
yếu và thứ yếu.
Để dễ nghiên cứu, có thể chia thành ba loại nhân tố có ảnh hưởng quyết định
tới năng suất sinh học của thuỷ vực.

• Đặc điểm điều kiện tự nhiên của thuỷ vực là điều kiện bảo đảm cho các
quá trình chuyển hoá vật chất trong thuỷ vực tiến hành được thuận lợi.
Địa hình của thuỷ vực có một ý nghĩa quan trọng. Thí dụ như ở các thuỷ
vực quá sâu (hồ sâu, vùng khơi hải dương) khối lượng chất dinh dưỡng
tích tụ ở đáy không vận chuyển lên mặt được, vì vậy không tham gia vào
quá trình tạo thành vật chất ở tầng quang hợp được, làm các thuỷ vực
nầy mang tính chất nghèo dinh dưỡng. Ở vùng thượng lưu, đáy dốc nước
chảy xiết, cuốn trôi vật chất lắng đọng, độ sâu sâu mực nước quá thấp
làm nhiệt độ không ổn định cũng làm ảnh hưởng xấu đến năng suất sinh
học của thuỷ vực.
• Cơ sở chất dinh dưỡng của thuỷ vực: bao gồm cả khối lượng muối dinh
dưỡng , thức ăn của thực vật tự dưỡng, điều kiện để tạo nên các sản
phẩm sơ cấp và cả khối lượng thức ăn cho động vật, điều kiện để tạo nên
các sản phẩm thứ cấp. Chúng có hai nguồn gốc là nội tại và ngoại lai.

Khối lượng muối dinh dưỡng trong thủy vực (trước hết là các muối tạo sinh:
N,P,Si) phụ thuộc vào quá trình tích tụ và phân hủy chất hữu cơ trong thủy vực
và tùy thuộc vào nguồn muối dinh dưỡng từ ngoài thủy vực đổ vào. Đối với các
vùng biển ven bờ nguồn muối dinh dưỡng quan trọng là là các dòng nước từ lục
địa chảy ra. Đối với các thủy vực nội địa ở vùng đồng bằng một nguồn quan
trọng là nước thải sinh hoạt ở các vùng đông dân cư. Đối với các thủy vực vùng
núi, nguồn quan trọng là các chất mùn bã thực vật ở rừng, núi xung quanh đổ
vào. Tuy nhiên khối lượng chất hữu cơ tích tụ trong thủy vực chỉ có tác dụng
tích cực đối với năng suất sinh học thủy vực khi không làm ảnh hưởng tới chế
độ khí hòa tan trong thủy vực, không gây độc cho thủy sinh vật do các sản
phẩm phân hủy . Khối lượng chất hữu cơ tích tụ quá lớn khi phân hủy sẽ có tác
dụng tiêu cực đối với năng suất sinh học thủy vực, làm cho các thủy vực mất
dinh dưỡng. quá trình phân hủy chất hữu cơ lại phụ thuộc nhiều vào thành phần
và điều kiện hoạt động của vi sinh vật trong thủy vực, trước hết là vi khuẩn Ni
tơ, Lưu huỳnh, Sắt vào chế độ khí và nhiệt độ trong thủy vực.
Cơ sở thức ăn của động vật bao gồm rất nhiều thành phần: thức ăn động vật
(nổi và đáy), vi khuẩn, thực vật, chất vẩn, chất hữu cơ hòa tan. Các thành phần
thức ăn nầy có tác dụng nhiều hay ít đối với sản lượng thứ cấp của thủy vực
còn tùy thuộc vào giá trị sử dụng của chúng
• Thành phần và quan hệ quần loại trong thủy vực:

Thủy vực có năng suất sinh học cao, ngoài những yếu tố về đặc điểm lý hóa
học, địa hình thuận lợi và có cơ sở chất dinh dưỡng phong phú còn cần phải có
thành phần loài và quan hệ quần loại thích hợp. Điều nầy có ý nghĩa là thành
phần loài gồm nhiều loại có giá trị khai thác cao hay không, có tận dụng được
hết khả năng về thức ăn của thủy vực hay không, có sản lượng vi sinh vật cao
hay không. Mặt khác trong thành phần loài phải hạn chế tối đa các sinh vật gây
hại cho các thủy sinh vật khai thác (các loài ký sinh, cá dữ …). Trong quan hệ
quần loại, quan hệ thức ăn trong thủy vực là quan trọng nhất. Thủy vực có năng
suất sinh học cao phải có những chuổi thức ăn có lợi về mặt chuyển hóa vật
chất, thường là những chuổi thức ăn ngắn, phải khai thác được hết các khả
năng thức ăn tự nhiên, không để một khâu thức ăn nào bị bỏ phí.

• Các biện pháp khai thác và các nhân tố nhân tác ảnh hưởng đặc tính thủy
vực. Việc khai thác quá mức, bừa bãi một loại đối tượng nào đó sẽ dẫn
đến tình trạng làm giảm sút trữ lượng của chúng, nhiều khi bị tiêu diệt hẳn
trên một vùng lãnh thổ. Ví dụ khai thác cá bột trên sông, nhất định làm
ảnh hưởng đến trữ lượng cá nước ngọt. Trong các nguyên nhân nhân
tác, hiện tượng nhiễm bẩn thủy vực do nước thải công nghiệp có ảnh
hưởng nghiêm trọng đối với năng suất sinh học của thủy vực. Các công
trình thủy lợi, làm thay đổi chế độ thủy học của mạng lưới thủy văn trong
cả một vùng lãnh thổ, có khi gây ảnh hưởng xấu đến năng suất sinh học
của các thủy vực, đặc biệt đối với các loài cá di cư đi đẻ, các thủy sản
nước mặn di nhập vào nước ngọt nội địa.

Các biện pháp nâng cao năng suất sinh học trong thuỷ vực

Nghiên cứu nâng cao năng suất sinh học của một thủy vực thường tiến hành ở
hai mức độ, đó là biện pháp tận dụng khai thác khả năng tự nhiên và bảo vệ
sản lượng tự nhiên đó. một số phương thức làm tăng năng suất sinh học thủy
vực là
1. Cải tạo địa hình và chế độ thuỷ hoá học của thuỷ vực
Biện pháp nầy chỉ áp dụng đối với thủy vực nhỏ, các biện pháp cần thực hiện là

• Nạo vét bùn đáy để tăng độ sâu và hàm lượng Oxy.


• San phẳng nền đáy
• Bón vôi
• Gây bãi thực vật ven bờ, tạo bãi đẻ và tăng cường thức ăn.
• Xáo trộn nước trong thủy vực để chu chuyển nước.

2. Tăng cường cơ sở thức ăn tự nhiên trong thuỷ vực


Đây là biện pháp cơ bản nhất có hiệu quả nhất, các biện pháp cần thực hiện là

• Bón phân cho thủy vực


• Thuần hóa thủy sinh vật làm thức ăn vào thủy vực

Thuần hóa là đưa sinh vật từ ngoài thủy vực vào nuôi trong thủy vực, biến
chúng thành các sinh vật phát triển bình thường trong thủy vực. Mục đích thuần
hóa là đưa một hoặc một số loại sinh vật vào thủy vực để tận dụng những thành
phần thức ăn chưa tận dụng hết và để sử dụng loại sinh vật được thuần hoá đó
( nếu chúng phát triển tốt) như một thành phần thức ăn mới trong thủy vực.

• Gây nuôi nhân tạo thức ăn sinh vật.


• Cải tạo thành phần loài: Mục đích của biện pháp nầy là tăng cường các
đối tượng có giá trị kinh tế cao, có sản lượng cao trong thủy vực và loại
trừ các loài gây hại.

3. Khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sinh vật trong thuỷ vực.
Những qui định về kích thước khai thác, mùa vụ khai thác và kỹ thuật khai thác
cần được thực hiện nghiêm chỉnh. Cần có những biện pháp bảo vệ các thủy
vực khỏi nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp, khi xây dựng các công trình
thủy lợi cần kết hợp chặt chẽ với việc khai thác nguồn lợi sinh vật thủy vực.

Đời sống cá thể thuỷ sinh vật


Đặc điểm cơ bản nhất của đời sống thủy sinh vật là chúng sống trong môi
trường nước. Các quá trình sống của thủy sinh vật, nhìn một cách tổng quát,
đều diễn ra trong mối quan hệ qua lại giữa cơ thể thủy sinh vật và môi trường
nước. Chúng rất khác với những sinh vật ở môi trường cạn về về các đặc điểm
lý, hóa, cơ học và sinh học. Các nhân tố sinh thái: nhiệt độ ánh sáng, gió … đều
tác động đến đời sống thủy sinh vật thông qua môi trường nước, sau khi đã
biến đổi một cách có qui luật trong môi trường nước. Mặt khác, môi trường
nước trong thiên nhiên không phải đồng nhất mà biến đổi theo từng địa
phương, theo từng thủy vực cụ thể. Vì vậy, đời sống thủy sinh vật một mặt tuân
theo những qui luật chung, một mặt có những đặc điểm riêng trong điều kiện cụ
thể của từng thủy vực, từng vùng của thủy vực.
Thủy sinhn vật trong thủy vực bao gồm nhiều loại động vật, thực vật, vi khuẩn,
nấm. trong từng nhóm cũng lại gồm nhiều bậc tiến hóa từ thấp tới cao. Các
nhân tố sinh thái tác động tới các hoạt động sống của thủy sinh vật gồm các
nhân tố vô sinh: nhiệt độ, ánh sáng, nồng độ muối, pH … và các nhân tố hữu
sinh (các thủy sinh vật khác và các sinh vật khác ngoài thủy vực). Mỗi nhân tố
nầy ít hay nhiều, gián tiếp hay trực tiếp đều đồng thời có ảnh hưởng một cách
nhất định đến từng quá trình sống của thủy sinh vật trong thủy vực. Nói cách
khác đời sống thủy sinh vật ở mức độ cá thể, quần thể cũng như quần loại trong
thủy vực đều nằm trong mối quan hệ phức tạp với cả một phức hệ nhân tố, ảnh
hưởng nhiều mặt hổ trợ hoặc hạn chế lẫn nhau, chứ không phải chịu tác động
của từng nhân tố riêng lẻ.
Nghiên cứu đời sống thủy sinh vật một cách đúng đứn là phải nghiên cứu trong
tác động tương quan, đồng thời của cả phức hệ nhân tố sinh thái trong thủy vực
đối với hoạt động sống đó và ảnh hưởng của hoạt động sống đó đối với môi
trường bên ngoài.
Các nhân tố sinh thái của môi trường tác động lên hoạt động sống của thủy sinh
vật không đều nhau, mà có các nhân tố tác động chủ yếu hay thứ yếu. Vì thế
việc phân tích rõ nhân tố chủ yếu hay thứ yếu để xác định rõ nhân tố chủ đạo
trong từng hoạt động sống giúp ta hiểu một cách đúng đắn nguyên nhân và hậu
quả của hiện tượng sống. Đời sống cá thể của thủy sinh vật trong môi trường
nước rất đa dạng, nhưng có thể tập trung lại trong các vấn đề. : di động, dinh
dưỡng, trao đổi nước, muối, trao đổi khí, sinh sản, sinh trưởng và phát triển.
Trong tự nhiên mọi hoạt động của thủy sinh vật không xảy ra một cách đơn độc
ở riêng một cá thể mà mỗi cá thể đều sống trong quần thể nhất định của loài,
trong mối quan hệ qua lại với các cá thể khác trong quần thể. Vì vậy việc nghiên
cứu đời sống cá thể một cách đúng đắn không thể tách rời đời sống quần thể,
phải luôn luôn gắn liền với mối quan hệ hổ trợ hoặc hạn chế của quần thể.
Thủy sinh vật sống trong thủy vực có cấu tạo và đời sống thích ứng với từng
loại sinh cảnh khác nhau. Có thể phân chia thủy sinh vật thành ba nhóm sinh
thái lớn, sống ở ba sinh cảnh lớn.
• Sinh vật trong tầng nước: (Pelagos). Trong đó có thể phân biệt: sinh vật
nổi (plankton), sinh vật màng nước (neiston), sinh vật trôi (pleiston) sinh
vật tự bơi (nekton). Ngoài ra còn có các sinh vật sống trên các vật thể ở
nước (cây, cỏ, rác, đá …) gọi là sinh vật bám (periphyton). Tập hợp các
sinh vật sống trong tầng nước và các chất vẩn trong nước (detritius hay
tripton) gọi chung là chất cái (seston)
• Sinh vật đáy (Benthos)

• Sinh vật vùng triều

Di động của thuỷ sinh vật

Di động là một yêu cầu của đời sống thủy sinh vật. Để bảo đảm có được những
điều kiện môi trường thích hợp với từng loại hoạt động sống (dinh dưỡng hô
hấp) và từng giai đoạn phát triển.
Khả năng di động của thủy sinh vật là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài, phù
hợp với đặc điểm và sinh sản của thủy sinh vật
1. Khả năng nhận biết môi trường và định hướng di động ở thủy sinh vật
• Khả năng nhận ánh sáng: do môi trường ít ánh sáng nên khả năng nầy
tương đối kém, chúng chỉ nhìn được vật rất gần nhưng lại nhìn được vật
rất nhỏ. Chúng còn có khả năng nhận biết được màu sắc, có một số còn
nhận biết được ánh sáng phân cực và di động theo mặt phẳng của ánh
sáng phân cực.
• Khả năng nhận âm: tốt hơn nhận ánh sáng, phù hợp với đặc điểm lan
nhanh và xa của âm trong nước. Âm của thủy sinh vật phát ra nhờ các
cơ quan phát âm, thường ở càng, giáp đầu, râu I (giáp xác), ở răng hầu,
tia vi ngực, khớp sọ, cột sống và hàm (cá). Âm thường phát ra nhằm
nhiều mục đích: báo động, gọi con cùng bầy, gọi đực cái, báo hiệu, bắt
mồi … thủy sinh vật còn có khả năng phát sóng siêu âm và nhận siêu
âm.
• Khả năng nhận điện và từ: khả năng nầy có gần như ở hầu hết các thủy
sinh vật. Nhiều loài có khả năng phát ra xung điện để thăm dò thức ăn
trong điều kiện nước đục, định hướng di động trong điều kiện không có
ánh sáng, nguyên tắc nhận biết là sự thay đổi trường điện từ xung
quanh.
• Khả năng nhận biết áp lực nước: do cơ quan thủy tĩnh (bong bóng cá, nhĩ
thạch…) ở thủy sinh vật đảm nhận, khả năng nầy giúp con vật xác định
độ sâu thuận lợi nhất trong thủy vực.
• Khả năng nhận biết mùi vị: khả năng nầy giúp con vật nhận biết vật cùng
loài, ghép bầy, phát hiện kẻ thù.
Tóm lại nhờ những khả năng trên mà thủy sinh vật có khả năng phân tích được
đặc điểm môi trường, xác định được tư thế, vị trí của nó trong môi trường nước.
2. Các cách di động ở thuỷ sinh vật
* Di động chủ động
Đây là lối di động tích cực, tốc độ nhanh, chủ động định hướng di động. Vì vậy
nhanh chóng tìm thấy môi trường sống cần thiết. khả năng nầy phụ thuộc vào
hai nhân tố là mức độ phát triển của cơ quan vận động và sức cản của môi
trường nước. Di động chủ động có thể dưới hình thức từng cá thể hay từng
bầy. di động cả bầy thường theo cùng một hướng chung và cùng một tốc độ
chung.Di động chủ động có thể ở trên màng nước, trong tầng nước, trên mặt
nền đáy hay trong tầng đáy.
• Di động trên màng nước: đây là lối di dộng của động vật ở màng nước
(epineston và hyponeston), lối di động nầy rất hạn chế về khoảng không
gian di động và thường với tốc độ chậm. Các động vật di động trên màng
nước thường có kích cỡ nhỏ, có mặt dưới của chân (đốt bàn và ngón ở
côn trùng, chân ở thân mềm) hoặc không thấm nước (vì vậy không làm
vỡ màng nước) hoặc dính chặt vào màng nước nhờ sức hút (côn trùng
Gyrinidae, Hydrometridae, Notonectidae, Gerrdae, ốc Lymaea).
• Di động trong tầng nước: So với nền đáy, tầng nước có sức cản nhỏ hơn,
vì vậy rất thuận lợi cho nhóm di động chủ động, giảm bớt năng lượng tiêu
phí do sức cản. Thuỷ sinh vật di động trong tầng nước có thể bơi nhảy
trượt hoặc bay.
o Bơi: lối di động linh hoạt nhất trong tầng nước. Thuỷ sinh vật bơi
bằng nhiều hình thức : hoạt động tiêm mao, vây bơi, chân bơi, uốn
cơ thể hay phản lực của tia nước. Để giảm sức cản, sinh vật có
nhiều đặc điểm thích ứng như cơ thể có hình dạng thuỷ lôi, có khả
năng tiết chất nhờn, ngoài ra chúng có hình dạng dễ nổi.
o Nhảy: thấy ở côn trùng nhiều loài luân trùng (Rotifer) , giáp xác, ấu
trùng côn trùng, cá, động vật có vú ….
o Bay: thấy ở cá chuồn (Exocoetidae) và nhiều loại mực. Các vật nầy
có thể vọt lên khỏi mặt nước từng quảng hàng trăm mét, tốc độ có
thể tới 50 km/giờ.
o Trượt: thấy ở tảo khuê.

• Di động trên nền đáy và các vật thể

Hình di động bằng lối chạy (tôm, cua), bò (amip, giun, ấu trùng côn trùng), bò
kiểu sâu đo (bạch tuộc, đỉa), nhảy (ốc Strombidae, ấu trùng chuồn chuồn, trai
Pecten), trượt (cá Perioplthalmus). Di động trên nền đáy rắn dễ dàng hơn, vì
vậy kích thước trung bình của vật ở nền đáy rắn bao giờ cũng lớn hơn ở đáy
bùn mềm.
• Di động trong nền đáy:

Trong nền đáy thuỷ sinh vật có thể luồn trong khe hở, đào hang bằng vòi, vùi
sâu xuống bùn. Tốc độ di động lối nầy rất chậm, độ xuống sâu chỉ 30 -50cm là
nhiều. Lối di động nầy thường thấy ở nhiều loại giun, luân trùng, trai, ốc, giáp
xác cầu gai.
* Di động thụ động
Các thuỷ sinh vật có lối di động thụ động được thấy ở những thuỷ sinh vật sống
di động và thuỷ sinh vật sống không di động. Các hình thức di động thụ động rất
đa dạng:
• Di động nhờ gió thường chỉ thấy ở trường hợp các trứng nghỉ, các dạng
tiềm sinh ở những thuỷ vực khô cạn bị cuốn đi cùng với bụi, cũng có
trường hợp sinh vật trưởng thành cũng bị gió cuốn đi.
• Di động nhờ dòng nước là lối di độngthụ động phổ biến và quan trọng ở
thuỷ sinh vật. Di động nhờ dòng nước không những chỉ thấy ở sinh vật
nổi mà còn thấy cả ở sinh vật đáy. Chuyển động của nước mang sinh vật
đi từ nơi nầy sang nơi khác và cả tầng đáy lên tầng mặt.
• Di động nhờ vật thể khác: thuỷ sinh vật bám vào các vật thể trôi như tảng
băng, gỗ mục, tàu bè sẽ được đưa đi khắp nơi, tạo thành sự phân bố
mới.
• Di động nhờ sinh vật: đây là lối di động đặc sắc, có vai trò quan trọng
trong khả năng phát tán của sinh vật. Thuỷ sinh vật có thể được di
chuyển từ nơi nầy sang nơi khác nhờ chim, côn trùng các loài lưỡng thê,
bò sát và động vật có vú. Các sinh vật nầy mang thuỷ sinh vật ở dạng
trứng nghỉ hoặc tiềm sinh hay còn đang sống và hoạt động.

Dinh dưỡng của thuỷ sinh vật


Lối dinh dưỡng của thuỷ sinh vật bao gồm các quá trình lấy thức ăn từ ngoài
vào cơ thể, tạo nên vật chất hữu cơ của cơ thể và năng lượng để sinh trưởng
và phát triển, đồng thời thải ra sản phẩm thải. Dinh dưỡng của thuỷ sinh vật giữ
vai trò rất quan trọng trong quá trình chuyển hoá vật chất và năng lượng trong
thuỷ vực. Xét về cơ chế, có thể chia cách dinh dưỡng của thuỷ sinh vật ra làm
hai lối dinh dưỡng:
1. Dinh dưỡng tự dưỡng
Thuỷ sinh vật sử dụng trực tiếp vật chất vô cơ để tạo nên vật chất hữu cơ cho
cơ thể, dựa vào nguồn năng lượng ngoài. thuỷ sinh vật nầy là sinh vật sản sinh
trong thuỷ vực, tạo nên khối vật chất ban đầu làm cơ sở cho sự phát triển của
sinh vật dị dưỡng. Ngoài ra chúng còn cung cấp Oxy, hấp thụ CO2, loại trừ khí
độc CH4, H2S trong quá trình Oxy hoá làm cho điều kiện sống trong thuỷ vực
được tốt hơn.
Thuỷ sinh vật tự dưỡng tiến hành hai lối dinh dưỡng khác nhau. Thực vật có
diệp lục tổng hợp chất chất vô cơ thành chất hữu cơ trong quá trình quang hợp,
qua sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời. Vi khuẩn tự dưỡng tạo thành chất
hữu cơ qua sử dụng năng lượng của các quá trình Oxy hoá chất vô cơ trong
thuỷ vực.
• Dinh dưỡng tự dưỡng nhờ quang hợp: khả năng nầy phụ thuộc vào khả
năng hấp thụ ánh sáng và lượng CO2 có trong thuỷ vực
• Dinh dưỡng tự dưỡng bằng hoá tổng hợp: do các nhóm vi sinh vật thực
hiện. Vi khuẩn dinh dưỡng tự dưỡng bằng hóa tổng hợp có ở các loại
thủy vực nước ngọt và nước mặn, cả trong tầng nước và ở nền đáy. Các
nhóm quan trọng là vi khuẩn Nitơ (Nitrit hóa và Nitrat hóa), vi khuẩn Lưu
huỳnh, vi khuẩn sắt. Hoạt động của vi khuẩn hóa tổng hợp cần Oxy và
các sản phẩm phân hủy của chất hữu cơ trong điều kiện kỵ khí. Do đó,
các loại vi khuẩn nầy tập trung nhiều nhất ở nền đáy. Cường độ hóa tổng
hợp của vi khuẩn ở trong tầng nước thường thấp hơn ở nền đáy tới hàng
chục hay hàng trăm lần.
• Hấp thụ muối dinh dưỡng hòa tan: thực vật trong nước, trong quá trình
tạo chất hữu cơ từ chất vô cơ, ngoài việc hấp thụ C,H,O chúng còn cần
các nguyên tố khác. Các nguyên tố nầy ở dạng muối hòa tan trong nước
và gọi chung là muối dinh dưỡng. Trong số các nguyên tố chủ yếu cần
thiết cho đời sống thủy sinh vật tự dưỡng có thể kể đến: Na, K, Ca, N, P,
Si, Fe, Mg, Mn và đặc biệt quan trọng là N, P cần cho quá trình sinh
trưởng và phát triển của sinh vật. Nguồn gốc các muối dinh dưỡng có thể
từ ngoài thủy vực (từ đất, chất hữu cơ ngoài thủy vực) hay từ các sinh
vật trong thủy vực bị mục nát.
2. Dinh dưỡng dị dưỡng
Thủy sinh vật dinh dưỡng dị dưỡng bao gồm các động vật - sinh vật tiêu thụ -
ăn chất hữu cơ có sẳn dưới dạng sinh vật, hay các sản phẩm phân hủy của
chúng ở các giai đoạn khác nhau. Ngoài ra còn có các vi khuẩn dị dưỡng, các
nấm hoại sinh trong thủy vực vô cơ hóa các chất hữu cơ rửa nát để cho ra các
mối dinh dưỡng cung cấp cho thực vật. Khác với thủy sinh vật tự dưỡng, cách
ăn và thức ăn của sinh vật dị dưỡng rất đa dạng. Hình thức dinh dưỡng dị
dưỡng là kết quả của một quá trình tiến hóa lâu dài về mặt quan hệ dinh dưỡng
giữa thủy sinh vật và môi trường.
• Dinh dưỡng tự cung cấp: (Endogen): Thủy sinh vật thuộc nhóm nầy dinh
dưỡng nhờ các chất dự trữ chứa sẳn trong cơ thể (noãn hoàng, chất mỡ,
chất đường). Trong giai đoạn chưa kiếm được thức ăn (giai đoạn phôi,
hậu phôi) hoặc giai đoạn nghỉ ăn (sống tiềm sinh, giai đoạn nhịn đói). Lối
dinh dưỡng nầy thấy ở nhiều động vật nhưng chỉ xảy ra ở từng giai đoạn
của đời sống mà thôi. Khả năng sống nhờ lối dinh dưỡng nầy nhiều khi
rất dài . Khi nhiệt độ càng tăng, quá trình trao đổi chất càng tăng, chất
dinh dưỡng dự trữ càng giảm nhanh, thời gian dinh dưỡng tự cung cấp
càng ngắn.
• Dinh dưỡng nhờ tảo cộng sinh: thấy ở động vật nguyên sinh (Protozoa),
thủy tức (Hydra), hải quỳ, san hô, sán tiêm mao, thân mềm … trong cơ
thể chúng có tảo cộng sinh (Chlorella, Cryptomonadina,
Chrysomonadiana), nhờ quang hợp tạo chất hữu cơ cunhg cấp cho
chúng.
• Dinh dưỡng hoại sinh: các vi khuẩn và nấm hoại sinh sống trên các xác
rửa nát của sinh vật chết, hấp thụ chất hữu cơ bằng lối thẩm thấu rồi
phân hủy chúng nhờ các men phân hủy tạo thành các muối vô cơ hòa
tan trong nước. các vi khuẩn hoại sinh giữ vai trò quan trọng trong chu
trình chuyển hóa vật chất của thủy vực, cung cấp muối dinh dưỡng và
CO2 cho thực vật.
• Dinh dưỡng chất hữu cơ hòa tan bằng thẩm thấu:

Putter (1909) cho rằng thủy sinh vật dị dưỡng chủ yếu sống bằng chất hữu cơ
hòa tan qua đường thẩm thấu. Các chất nầy là sản phẩm của quá trình quang
hợp và hoạt động sống của vi khuẩn, lối ăn nầy chiếm 90% nhu cầu thức ăn của
thủy sinh vật, còn thức ăn dạng sinh vật chỉ chiểm phần nhỏ và là ngồn cung
cấp vitamin mà thôi. Theo tính tóan ông cho rằng thực tế thức ăn sinh vật không
đủ cung cấp nhu cầu thức ăn của sinh vật dị dưỡng.
Qua các nghiên cứu hiện nay chứng tỏ: chất hữu cơ hòa tan có vai trò nhất định
trong dinh dưỡng của thủy sinh vật dị dưỡng nhưng không theo như quan điểm
của Putter. Vì việc hấp thu qua thành cơ thể bằng thẩm thấu rất khó khăn. Các
chất hữu cơ hòa tan đều khó được hấp thu, số lượng chất hữu cơ hòa tan có
hạn, chỉ có khi tế bào bị phân hủy.
• Lối ăn sinh vật và các sản phẩm sinh vật dạng phân hủy: đây là lối dinh
dưỡng cơ bản của phần lớn thủy sinh vật dị dưỡng. Người ta còn gọi lối
dinh dưỡng nầy và dinh dưỡng chất hữu cơ hòa tan nói trên là dinh
dưỡng ngoại sinh (exogen), còn lối dinh dưỡng nhờ chất dự trữ và vật
cộng sinh là dinh dưỡng nội sinh (endogen).
Trong lối ăn tích cực nầy, sinh vật phải tiêu hao một phần năng lượng vào việc
lấy thức ăn từ môi trường ngoài, và tiêu hóa thức ăn trong cơ quan tiêu hóa nhờ
các men, Đồng thời chất lượng thức ăn cũng cao hơn, vì thành phần phong phú
và số lượng lớn hơn. Mặt khác do quan hệ thức ăn trong lối dinh dưỡng nầy là
quan hệ giữa sinh vật với sinh vật, vì vậy phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố vô
sinh cũng như hữu sinh của môi trường ngoài, cũng như vào đặc điểm của vật
ăn và vật bị ăn.
Nguồn thức ăn sinh vật trong thủy vực bao gồm chất vẩn, vi khuẩn, thực vật,
động vật.
• Chất vẩn (Detritus) : là một phức hệ sống phức tạp, phần cơ bản là mảnh
giá thể động vật, thực vật hay chất vô cơ. Các giá thể nầy có khả năng
hấp thụ chất hữu cơ hòa tan. Dạng keo trên bề mặt của giá thể tạo thành
màng hữu cơ và đó là môi trường tốt cho vi khuẩn phát triển. Do hoạt
động của vi khuẩn tạo ra bọt khí làm giá thể lơ lững trong nước. Ngoài vi
khuẩn còn có cả tảo (Phytoplankton), nguyên sinh động vật (Protozoa) và
cả luân trùng (Rotatoria) ăn vi khuẩn. Giá trị dinh dưỡng của detritus chủ
yếu ở nhiều loại vi khuẩn sống trên giá thể.
• Vi khuẩn : (Bacteria) : là thức ăn cho hầu hết các ngành động vật , đặc
biệt là ở sinh vật ăn bùn và chất cái(seston) như giáp xác nhỏ và trai ăn
lọc. Thành phần vi khuẩn cũng có nhiều trong thức ăn của cá con.
• Thực vật nổi (Phytoplankton) là thành phần thức ăn cơ bản của động vật
trong thuỷ vực, có số lượng rất lớn. Động vật nổi tiêu thụ thực vật nổi tuỳ
theo thành phần loài và kích thước . Động vật ăn thực vật nổi có động vật
nguyên sinh, (trùng chân giả, trùng phóng xạ, trùng mặt trời, nhiều loài
trai, luân trùng, thân mềm (hàu, vẹm…), giáp xác nhỏ, cá mè trắng, cá
trích và nhiều loài cá khác.
• Thực vật lớn (Macrophyta): Ở biển quan trọng nhất là tảo nâu (Fucus,
Laminaria), rồi đến tảo lục, sau cùng là tảo đỏ. Ở các thuỷ vực nước
ngọt, thành phần loài thực vật lớn phong phú hơn, tập trung ở vùng ven
bờ hay sống nổi trên mặt nước. Các động vật ăn thực vật lớn thuộc các
nhóm: thân mềm, giáp xác, côn trùng, cá, rùa, chim, động vật có vú.
Càng về phía xich đạo, thực vật lớn có quanh năm, càng xuất hiện nhiều
loài ăn thực vật lớn. Có những loài chỉ ăn toàn thực vật như cá trắm cỏ,
cua.
• Động vật nổi(Zooplakton) : Thành phần động vật ăn động vật nổi gồm
nhiều nhóm thuộc nhiều bậc dinh dưỡng khác nhau. Ở biển, các nhóm
sinh vật làm thức ăn quan trọng là giáp xác nhỏ (Copepoda,
Euphausiacae, Mysidae), Protozoa, Coelenterata, Pteropoda,
Cephalopoda và Polychaeta. Ở nước ngọt có Cladocera, Rotatoria và
Copepoda.
• Động vật đáy (Zoobenthos): là thức ăn quan trọng của các sinh vật ăn đáy
như tôm, cua, cá, động vật có vú thuỷ sinh.
• Động vật có xương sống (Vertebrata): là thức ăn của cá và động vật có vú
ở nước. Cá là thức ăn của nhiều loài cá ăn thịt, chim, hải cẩu. Cá nhỏ
còn bị sứa, hải quỳ, sao biển ăn. Động vật có vú ở nước nhiều khi là thức
ăn của cá mập, gấu trắng …
Trong nghiên cứu về thức ăn của thuỷ sinh vật dị dưỡng, người ta cũng dùng
một số khái niệm để đánh giá số lượng thức ăn trong thuỷ vực.
• Nguồn thức ăn của thuỷ vực: là khối lượng tất cả động vật, thực vật và
các sản phẩm phân huỷ của chúng, có thể sử dụng được làm thức ăn
cho mọi thuỷ sinh vật và xác định được bằng phương pháp định lượng.
• Cơ sở thức ăn: là khái niệm chỉ lượng động vật, thực vật, chất hữu cơ
trong thuỷ vực có thể dùng làm thức ăn cho một nhóm thuỷ sinh vật nhất
định nào đó.
• Lượng thức ăn của thuỷ vực đối với một loại thuỷ sinh vật: là phần cơ sở
thức ăn thực tế của thuỷ vực được sinh vật đó ăn trong một thời gian nào
đó.
• Diện thức ăn: (Phổ thức ăn) là giới hạn và thành phần thức ăn của một
loài sinh vật nào đó trong thuỷ vực. Diện thức ăn biến đổi theo độ sinh
trưởng, thuỷ vực, mùa, ngày đêm, sự biến đổi của cơ sở thức ăn và khả
năng lấy thức ăn của thuỷ sinh vật.
Đặc tính thich ứng của vật ăn và vật bị ăn trong quan hệ thức ăn là vật ăn tăng
cường khả năng bắt mồi còn vật bị ăn tăng cường khả năng tự bảo vệ.
• Thích ứng của vật bị ăn : có màu sắc nguỵ trang, khả năng lẩn trốn cao,
cơ thể có cấu tạo bảo vệ.
• Thích ứng của vật ăn: tăng cường khả năng bắt mồi để lấy đủ số lượng
và chất lượng thức ăn, biểu hiện ở cấu tạo của cơ quan bắt mồi, phương
thức lấy thức ăn, khả năng bắt mồi và khả năng lựa chọn con mồi.
o Cách lấy thức ăn không phân biệt: thường thấy ở những thuỷ sinh
vật ăn bùn đáy, ăn sinh vật phù du nhỏ, ăn chất vẩn. với phương
thức ăn nầy, sinh vật bảo đảm lượng thức ăn nhưng chất lượng
không cao. Có hai cách lấy thức ăn kiểu nầy là kiểu lắng và kiểu
lọc.
o Cách lấy thức ăn phân biệt: là cách lấy thức ăn có chọn lựa, tìm
thức ăn thích hợp, đảm bảo về chất lượng thức ăn.
ƒ Đặc tính chọn lựa thức ăn: Khả năng nầy là đặc điểm thích
ứng bảo đảm chất lượng thức ăn, thể hiện ở tỉ lệ thành
phần thức ăn trong ruột thuỷ sinh vật không giống với tỉ lệ
thành phần thức ăn ở môi trường. Hiện tượng nầy thấy ở
tất cả bọn động vật từ thấp tới cao và cả bọn lấy thức ăn
phân biệt lẫn không phân biệt. Để xác định tính lựa chọn.
ƒ Cường độ ăn : là tỉ số giữa lượng thức ăn được sử dụng
trong một đơn vị thời gian với trọng lượng con vật. Để tính
lượng thức ăn, người ta thường dùng các khái niệm như:
ƒ Khẩu phần ngày là lượng thức ăn được sử dụng
trong ngày
ƒ Chỉ số thức ăn là tỉ số phần trăm giữa khẩu phần
ngày với khối lượng con vật.
ƒ Chỉ số độ no là tỉ số trọng lượng thức ăn chắ trong
ruột với khối lượng con vật .
ƒ Cường độ ăn phụ thuộc vào thành phần loài, tình
trạng sinh lý và các nhân tố môi trường ngoài như
thay đổi theo độ sinh trưởng, sinh sản, loại thức ăn,
số lượng thức ăn, nhiệt độ, Oxy hoà tan trong nước,
mùa, ngày đêm, thuỷ triều…

Trao đổi nước và muối ở thuỷ sinh vật

Trao đổi nước và muối giữa cơ thể và môi trường nước là hoạt động sống đặc
biệt quan trọng ở thuỷ sinh vật, đặc trưng cho sinh vật sống ở nước. Thuỷ sinh
vật không thể sống bình thường khi tách chúng ra khỏi môi trường nước. trong
cơ thể thuỷ sinh vật luôn luôn phải có một hàm lượng nước nhất định để bảo
đảm các quá trình sinh hoá học, duy trì sự sống.. ngoài lượng nước, trong cơ
thể thuỷ sinh vật cũng cần có một lượng muối nhất định, thành phần của các
dịch cơ thể (dịch tế bào, máu, nước tiểu..). Lượng muối nầy sai khác về nồng
độ cũng như thành phần với nồng độ muối của môi trường nước bên ngoài. Để
duy trì sự sống bình thường, ngoài việc bảo đảm lượng nước cần thiết thuỷ sinh
vật còn cần có những đặc điểm thích ứng và những cơ chế điều hoà nhằm bảo
đảm cho cơ thể luôn có một nồng độ muối và thành phần muối nhất định. Các
đặc điểm thích ứng và khả năng điều hoà nước và muối trong cơ thể, chống lại
những biến đổi của môi trường bên ngoài, được coi là những đặc điểm thích
ứng của loài được hình thành nên trong lịch sử phát sinh chủng loại.
1. Trao đổi muối giữa cơ thể sinh vật với môi trường ngoài
Trong thiên nhiên, nhu cầu về muối của cơ thể thuỷ sinh vật và quan hệ về nồng
độ muối giữa cơ thể và môi trường ngoài được thể hiện rõ rệt nhất ở giới hạn
phân bố theo nồng độ muối của thuỷ sinh vật. Mỗi loài thuỷ sinh vật, nói chung,
chỉ sống ở nơi có nồng độ muối thich hợp. Thuỷ sinh vật nước ngọt và nước
mặn không sống lẫn lộn với nhau. Trong mỗi thuỷ vực, nồng độ muối không
phải ở chỗ nào và lúc nào cũng ổn định. Lớp nước trên mặt ở biển vào mùa
mưa thường nhạt đi, hoặc do bốc hơi trở nên mặn hơn. Vùng cửa sông, nước
mặn và nước ngọt giao nhau, nồng độ muối ở đây không còn như ở sông, cũng
không còn như ở biển. Những biến đổi về nồng độ muối nầy nhất định ảnh
hưởng tới đời sống thủy sinh vật sống trong thủy vực.
Trong thiên nhiên cũng thường có hiện tượng thủy sinh vật biển di nhập vào
nước ngọt hay từ nước ngọt ra biển một thời gian. Từ những hiện tượng trên có
thể đặt ra hai vấn đề:
• Giữa cơ thể thủy sinh vật và môi trường nước có quan hệ nhất định về
thành phần và nồng độ muối hay có thể gọi là quan hệ thẩm thấu, đó là
điều kiện để thủy sinh vật sống được bình thường.
• Thủy sinh vật có khả năng điều hòa quan hệ thẩm thấu nầy chống lại
những biến đổi nồng độ muối và thành phần muối của cơ thể, do biến đổi
nồng độ muối và thành phần muối của môi trường nước bên ngoài.
* Quan hệ thẩm thấu giữa thủy sinh vật với môi trường nước
Để chỉ quan hệ thẩm thấu, so sánh giữa cơ thể thủy sinh vật với môi trường
ngoài, người ta dùng các khái niệm:
• Quan hệ thẩm thấu tương đương (hay đẳng trương : Isotonic): khi dịch cơ
thể và môi trường nước bên ngoài có áp suất thẩm thấu bằng nhau.
• Quan hệ thẩm thấu cao hơn (hay ưu trương : Hypertonic) :khi dịch cơ thể
có áp suất thẩm thấu cao hơn.
• Quan hệ thẩm thấu thấp hơn (hay nhược trương: Hypotonic) :khi dịch cơ
thể có áp suất thẩm thấu thấp hơn.
Căn cứ vào quan hệ biến đổi giữa áp suất thẩm thấu của dịch cơ thể và của môi
trường, có thể chia thủy sinh vật thành các nhóm sau:
• Biến thẩm thấu Poikiloosmotic: Dịch cơ thể có quan hệ thẩm thấu tương
đương và biến đổi theo môi trường ngoài, chúng không có khả năng điều
hòa thẩm thấu. Đa số động vật không xương sống biển thuộc vào nhóm
nầy. Trong động vật nước ngọt có nhóm hải miên, ruột khoang, giun ít tơ
, đỉa, thân mềm, giáp xác chân mang là các động vật biến thẩm thấu.
• Đồng thẩm thấu Homoiosmotic: Khi dịch cơ thể có áp suất thẩm thấu cao
hơn hay thấp hơn hay tương đối độc lập với môi trường ngoài, thủy sinh
vật có khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu. Trong nhóm nầy có động
vật có xương sống nước ngọt, côn trùng và ấu trùng côn trùng, cá, giáp
xác cao ở biển và nước ngọt.
• Giả đồng thẩm thấu Pseudohomoiosmotic: Động vật biến thẩm thấu,
nhưng do ở xa bờ hay ở đáy biển sâu nồng độ muối hầu như không thay
đổi, nên áp suất thẩm thấu của của dịch cơ thể cũng không thay đổi, tuy
chúng không có khả năng điều hòa thẩm thấu.
* Hoạt động điều hòa muối ở thủy sinh vật
(Hình37)
Điều hòa muối là quá trình hoạt động của cơ thể đảm bảo cho dịch cơ thể giữ
nguyên được nồng độ và thành phần muối nhất định của mình chống lại những
biến đổi của môi trường ngoài. Do thành phần muối trong cơ thể thủy sinh vật,
không những chỉ sai khác về mặt nồng độ chung mà còn sai khác về cả thành
phần ion nữa. Vì vậy, quá trình điều hòa phải đảm bảo cả hai mặt: điều hòa
nồng độ muối chung (hay điều hòa thẩm thấu) và điều hòa thành phần ion (hay
điều hòa ion).
Điều hòa muối ở thủy sinh vật có thể tiến hành theo hai hướng:
• Điều hòa tăng: nhằm chống hiện tượng giảm áp suất thẩm thấu của cơ
thể.
• Điều hòa giảm: chống hiện tượng tăng áp suất thẩm thấu của cơ thể. Hai
quá trình nầy tiến hành ở bọn đồng thẩm thấu. Tùy theo quan hệ thẩm
thấu đối với môi trường ngoài của từng loại và biến đổi của môi trường
ngoài. Trường hợp thứ ba là thủy sinh vật không tiến hành điều hòa thẩm
thấu, luôn có quan hệ thẩm thấu tương đương với môi trường ngoài.
* Cơ chế điều hòa muối ở thủy sinh vật
• Điều hòa thụ động: điều hòa thụ động nhờ hiện tượng khuyếch tán các
chất từ môi trường có nồng độ muối cao sang môi trường có nồng độ
muối thấp qua màng tế bào cơ thể. Trường hợp phải chống lại sự xâm
nhập của muối vào cơ thể hay thoát muối ra khỏi cơ thể là nhờ vào tính ít
thấm qua của các tế bào thành cơ thể (đặc biệt ở thực vật có các tế bào
có màng chắc). Nhờ vậy các động vật nước ngọt khi có áp suất thẩm
thấu của dịch.mô cao hơn môi trường ngoài từ 0,5 - 1atm nhưng nước
vẫn không vào các tế bào được do tính chất của màng tế bào. Khả năng
thấm qua màng tế bào của các chất hòa tan phụ thuộc vào độ lớn và độ
phân cực của các phân tử (kích thước và độ phân cực càng thấp thì thì
càng dễ lọt qua). Các ion muối N,.P,Si và các muối khác xâm nhập vào tế
bào tảo theo cách thẩm thấu nầy.
• Điều hòa chủ động: thực hiện nhờ các tế bào đặc biệt ở bề mặt cơ thể
hay trên các cơ quan đặc biệt không cần tới lực khuyếch tán. Có thể coi
quá trình điều hòa chủ động như một quá trình hấp thu và bài tiết có chọn
lọc các ion cần thiết hay không cần thiết cho cơ thể, đảm bảo cho dịch cơ
thể có thành phần hóa học nhất định hay đặc trưng cho từng loài.
• Biến đổi của khả năng điều hòa muối ở thủy sinh vật: khả năng thích ứng
với nồng độ muối phụ thuộc vào khả năng điều hòa muối ở thủy sinh vật.
Khả năng nầy tăng lên khi con vật được huấn luyện dần với sự thay đổi
nồng độ muối. Nồng độ muối của dịch cơ thể thủy sinh vật bao giờ cũng
trong khoảng 5 -8%o, và đây là ngưỡng sinh lý chung ở thủy sinh vật,
cần thiết cho các quá trình sống trong cơ thể tiến hành được. Khi nồng
độ muối môi trường ngoài vượt quá khả năng điều hòa nước thì sinh vật
chuyển sang sống tiềm sinh sau khi thải ra môi trường một lượng nước
khá lớn.
(hình38)
Ý nghĩa sinh học của thành phần ion trong môi trường nước:
• Các ion có tính chất đối kháng về sinh lý, khử độc lẫn nhau: Nếu là hai ion
có tác dụng lẫn nhau, như Ca (giảm độ thấm màng tế bào) và Na (tăng
độ thấm màng tế bào) thì ta có tính đối kháng phân cực. Nếu là hai ion có
tác dụng giống nhau nhưng khử nhau khi hòa lẫn (Ca và K) thì ta có tính
đối kháng không phân cực.
• Đặc tính sinh lý của các muối là do các cation quyết định.

• Muốn cho cho dung dịch khỏi độc, đảm bảo đời sống bình thường của
thủy sinh vật thì trong dung dịch cần có một tỷ lệ nhất định giữa ion hóa
trị 1 và hóa trị 2, hệ số nầy gọi là hệ số Lôb và đặc trưng cho mỗi loài.
Lôb cũng đã chứng minh rằng khi độ muối chung giảm, để đảm bảo hoạt động
sinh lý bình thường của thủy sinh vật thì hệ số nầy giảm theo hướng tăng thêm
ion hóa trị 2 (ca, Mg), giảm bớt ion hóa trị 1(Na, K).
Các thí nghiệm của Ostwald cho thấy dung dịch muối càng gần với nước biển
về thành phần muối thì sinh vật càng phát triển tốt. Ví dụ: Chất lượng dung dịch
muối tăng dần theo thành phần muối phức tạp như sau:
NaCl < NaCl + KCl < NaCl + KCl + CaCl2 ….
Do đó các ion không chỉ quan trọng về mặt hóa trị mà còn có đặc tính riêng của
từng ion. Ion cùng dấu, cùng hóa trị nhưng có tác dụng sinh lý khác nhau như
Na, K, Ca, và Mg.
Các thí nghiệm của Ostwald cũng chứng tỏ về mặt sinh lý nguồn gốc biển của
thủy sinh vật. Thành phần muối gần với thành phần muối nước biển thuận lợi
đối với sinh lý bình thường của thủy sinh vật, chứng tỏ môi trường sống nguyên
thủy của chúng phải là môi trường biển.
Hiện tượng tích trữ muối hòa tan ở thủy sinh vật: thấy nhiều ở sinh vật biển,
lượng muối nầy rất lớn như tảo khuê (Bacillariophyta) có 80%Si, Mollusca có
50% Ca, Laminaria có hàm lượng Iod gấp 30.000 lần, Hải tiêu có hàm lượng
Vanadium gấp 280.000 lần hàm lượng trong nước biển. Do đó thủy sinh vật giữ
vai trò quan trọng trong chu trình muối khoáng ở thủy vực. Ngoài hoạt động điều
hòa muối, chúng còn ảnh hưởng tới khối lượng muối trong thủy vực bằng khả
năng tích tụ.
2. Trao đổi nước giữa cơ thể sinh vật với môi trường ngoài.
Trao đổi nước giữa thủy sinh vật với môi trường ngoài được tiến hành trong các
hoạt động sống (tiêu hóa, bài tiết, hô hấp, trao đổi nước và muối). Môi trường
nước là điều kiện tồn tại của thủy sinh vật, do đó để bảo vệ khả năng sống khi bị
tách rời khỏi môi trường nước, thủy sinh vật có những thích ứng về mặt cấu tạo
cũng như về sinh lý, nhằm bảo đảm giữ cho cơ thể một lượng nước cần thiết để
duy trì đời sống. Có thể có nhiều cách : lẫn vào nơi kín để khỏi mất nước, có
cấu tạo bảo vệ lượng nước cơ thể, chuyển sang sống tiềm sinh trong điều kiện
khô cạn.
- Lẫn vào nơi kín đáo để bảo vệ lượng nước trong cơ thể
Khi thủy vực bị khô cạn, trước hết thủy sinh vật chạy khỏi nơi bị khô cạn.
Trường hợp không ra khỏi nơi đó, các động vật có xu hướng lẫn vào nơi kín
(gầm đá tầng, gần các vật dưới nước), tự vùi xuống cát, xuống lớp bùn đáy để
giảm bốc hơi nước cơ thể. Các lối lẫn trốn trên thấy ở các sinh vật vùng triều ở
biển. Lối chung xuống bùn phổ biến ở động vật nước ngọt. Các động vật có khả
năng nầy rất nhiều: côn trùng cánh nửa (Hemiptera) ấu trùng muỗi, chuồn
chuồn, đỉa, giun ít tơ, ốc Planorbidae, Bithymidae, Viviparidae, Pilidae,
Limnaeidae, trai Sphaeridae, giáp xác sống nổi Diacyclops, Megacyclops, một
số loài cá. Các động vật nầy có thể xuống sâu đến 1m và có thể sống kéo dài
như vậy hàng tháng, có khi hàng năm.
- Cấu tạo bảo vệ lượng nước trong cơ thể:
Cấu tạo bảo vệ thường thấy là vỏ cơ thể dày như lớp biểu bì ở Chân khớp và
vỏ đá vôi ở thân mềm, nắp miệng ở ốc. Một loại cấu tạo bảo vệ đặc sắc khác là
bào xác ở động vật nguyên sinh. trứng nghỉ ở giáp xác râu ngành. Luân trùng
có thể chịu điều kiện khô cạn tới hàng năm. một số sinh vật chống khô cạn bằng
cách thu nhỏ thể tích, tiết màng bọc rồi chuyển sang sống tiềm sinh. Khả năng
này thấy ở động vật nguyên sinh, luân trùng, bò chậm (Tardigrada), giun tròn,
ấu trùng côn trùng. Khi gặp nước, vật sống tiềm sinh lại hồi sinh lại dần dần,
mau hay chậm tuỳ theo thời gian sống tiềm sinh mau hay lâu.

Trao đổi khí ở thuỷ sinh vật


Trao đổi khí được thực hiện ở thuỷ sinh vật trong quá trình quang hợp hô hấp
và quá trình nầy diễn ra trong môi trường nước. Vì vậy việc trao đổi khí một mặt
phụ thuộc vào đặc điểm thich ứngcủa thuỷ sinh vật, mặt khác phụ thuộc phụ
thuộc vào chế độ khí trong môi trường nước. Nhiều thuỷ sinh vật chuyển sang
sống tiềm sinh trong điều kiện không có Oxy, khi có đủ Oxy chúng hoạt động hô
hấp trở lại.
1. Tính thích ứng của thuỷ sinh vật với điều kiện hô hấp trong nước
Hô hấp của thuỷ sinh vật trong nước là nhờ qui luật khuyếch tán của Oxy và
CO2 qua thành cơ thể và trong môi trường nước. Hệ số khuyếch tán của Oxy
trong nước thấp hơn 320 lần so với trong không khí. Do đó thuỷ sinh vật lấy Oxy
trong nước khó hơn sinh vật ở cạn lấy Oxy trong không khí. Ngược lại việc việc
thải CO2 trong nước lại dễ hơn nhiều so với ở cạn. Một mặt do hệ số khuyếch
tán trong nước trong nước của CO2 khá cao, gấp 25 lần hơn hệ số khuyếch tán
Oxy. Mặt khác nhờ trong nước có muối Carbonate trung hoà nhanh chóng CO2
thải ra theo sơ đồ

CO2 H2CO3 Ca(HCO3)2 CaCO3 hoà tan CO3Ca lắng đọng


Trao đổi khí của thuỷ sinh vật phụ thuộc rất chặt chẽ với các điều kiện của môi
trường nước (hàm lượng khí trong nước, nhiệt độ, độ mặn, chuyển động của
nước) và với đặc điểm cấu tạo thích ứng cơ thể của thuỷ sinh vật.
Cũng do đặc điểm của môi trường nước về mặt trao đổi khí như vậy, nên các
thuỷ sinh vật thứ sinh trong khi giữ nguyên lối hấp thụ Oxy của sinh vật ở cạn
(phổi), lại có xu hướng chuyển sang lối thải CO2 của sinh vật ở nước (qua bề
mặt cơ thể).
* Thích ứng về mặt cấu tạo cơ thể ở thuỷ sinh vật
Phát triển theo hai hướng :mở rộng diện tích cơ thể để tăng cường diện tiếp xúc
và làm mỏng thành cơ thể để để khí dễ khuyếch tán. Các thuỷ sinh vật không có
cơ quan hô hấp chuyên hoá đều có kích thước nhỏ, do đó có diện tích tương
đối lớn: động vật nguyên sinh, luân trùng, giáp xác nhỏ. Các cơ quan hô hấp
chuyên hoá của thuỷ sinh vật (mang, khí quản) phân nhánh hoặc có số lượng
nhiều cũng nhằm tăng cường diện tiếp xúc của cơ thể với môi trường nước,
tăng cường trao đổi khí.
Ngoài các cơ quan hô hấp nhằm tăng cường diện tiếp xúc của cơ thể với môi
trường nước, ở nhiều thuỷ sinh vật còn có các cơ quan thích ứng đặc biệt khác
như ấu trùng ruồi Eristalis, muỗi Culex, bã trầu (Nepa) có những ống thở dài
nên có thể thò ra ngoài mặt bùn, hay thò lên mặt nước để lấy Oxy. Nhện nước
Argyroneta có chuông khí bằng tơ để chứa không khí dự trữ khi sống chìm dưới
nước.
* Tạo điều kiện trao đổi khí tốt của môi trường nước
Đó là những cách được thuỷ sinh vật thực hiện như di chuyển tới nơi có nhiều
Oxy, tạo dòng nước chảy qua cơ thể mang Oxy tới và phân tán khí Carbonic đi,
dựa vào hoạt động tiết Oxy của thực vật.
* Phối hợp giữa lối hô hấp ở cạn và ở nước
Đó là đặc điểm thích ứng thấy ở nhiều thực vật và động vật, đặc biệt ở các động
vật sống ở vùng ven bờ và sống trôi trên mặt nước như sen, sứa ống, các loài
ốc có phổi, ốc có mang, cua dừa, cáy, còng, cá, ếch, nhái.
2. Cường độ trao đổi khí ở thuỷ sinh vật
Cường độ trao đổi khí được thể hiện bằng lượng Oxy sinh vật sử dụng trong
một thời gian, trên một đơn vị trọng lượng cơ thể, tính theo đơn vị
mgOxy/1gram /1giờ.
Ta biết rằng, khi đốt cháy hết cùng một lượng Protid. Glucid, Lipid, cần có
những lượng Oxy khác nhau và lượng năng lượng toả ra cũng sẽ khác nhau
theo từng loại vật chất, nhưng đồng thời tỷ số giữa lượng Oxy sử dụng và năng
lượng toả ra đều xấp xĩ như nhau.

Năng lượng toả ra khi đốt 1gr Oxy cần để đốt 1gr
Vật chất K/O
(K) (O)
Protid 5,78 1,75 3,30
Lipid 9,46 2,88 3,28
Glucid 4,18 1,18 3,53

Hệ số K/O (lượng Calo toả ra khi đốt 1gr vật chất và lượng Oxy cần để đốt) gọi
là hệ số OxyCalo. Các nghiên cứu của Ivơlev(1939) cho thầy, hệ số nầy ở thuỷ
sinh vật trung bình 3,38cal/mgO2. Hệ số nầy không phụ thuộc vào điều kiện môi
trường sống của thuỷ sinh vật. Hệ số CO2/O2 gọi là hệ số hô hấp. Hệ số nầy
trong trường hợp hô hấp hiếu khí thường nhỏ hơn 1 (O2 > CO2). Nhưng trong
trường hợp có hô hấp kỵ khí một phần (do phân huỷ) thường xảy ra khi thiếu
Oxy, hệ số nầy có thể lớn hơn 1 (1(O2 < CO2). Hệ số hô hấp có thể thay đổi tuỳ
theo nhiều nhân tố của môi trường ngoài.
Cường độ trao đổi khí ở thuỷ sinh vật phụ thuộc vào hai loại nhân tố: đặc điểm
của bản thân cơ thể sinh vật và biến đổi của các nhân tố vô sinh, hữu sinh của
môi trường ngoài.
* Phụ thuộc vào đặc điểm cơ thể sinh vật
Cường độ trao đổi khí phụ thuộc vào thành phần loài, sinh trưởng và trạng thái
sinh lý của cơ thể. Quan hệ giữa cường độ trao đổi khí với kích thước cơ thể
thuỷ sinh vật thể hiện mối quan hệ với thành phần loài và sinh trưởng nhìn
chung là quan hệ nghịch : vật càng lớn, cường độ trao đổi khí càng giảm. quan
hệ nầy có ngoại lệ: có khi cường độ trao đổi khí của vật lớn lại lớn hơn vật nhỏ.
Cường độ trao đổi khí cũng phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển của thuỷ sinh
vật. Các giai đoạn phát triển sau có cường độ trao đổi khí cao hơn các giai đoạn
trước. Cường độ trao đổi khí còn phụ thuộc vào độ ăn và hoạt động của thuỷ
sinh vật. Vật càng no mồi, cường độ hô hấp càng cao. Vật càng vận động nhiều,
cường độ hô hấp càng cao.
* Phụ thuộc vào các nhân tố môi trường ngoài
Trong số các nhân tố môi trường ngoài, quan trọng nhất là nhiệt độ, hàm lượng
Oxy trong nước, mật độ thuỷ sinh vật và quan hệ giữa các cá thể. Các nhân tố
khác như nồng độ muối, pH, thành phần ion cũng có ảnh hưởng nhất định tới
cường độ hô hấp của thuỷ sinh vật.
Ảnh hưởng của nhiệt độ lên cường độ hô hấp rất rất phức tạp. Có khi quan hệ
nầy theo kiểu tăng dần, đều bình thường. Nhưng thường là khi nhiệt độ tăng,
cường độ hô hấp tăng tới một giới hạn nào đó rồi ngừng tăng trong một khoảng
nhiệt độ nhất định, đặc trưng cho từng loài, rồi lại tiếp tục tăng lên. Vùng nhiệt
độ nầy, cường độ hô hấp hầu như không thay đổi gọi là “vùng nhiệt độ thích
ứng”. Trong khoảng nhiệt độ tăng nầy, nhờ khả năng tự điều hoà, thuỷ sinh vật
giữ được cân bằng năng lượng, cơ thể không phụ thuộc vào thay đổi nhiệt độ
bên ngoài. điều nầy chứng tỏ rằng, trao đổi khí là một quá trình sinh học tự điều
hoà, không phải đơn thuần là một quá trình hoá động học hoàn toàn phụ thuộc
vào điều kiện nhiệt độ bên ngoài.
Hàm lượng Oxy trong nước khi giảm tới một giới hạn nhất định mới làm cường
độ hô hấp giảm đi. Giới hạn nầy phụ thuộc vào thành phần loài ở thuỷ sinh vật
và nhiệt độ nước. Có khi cường độ trao đổi khí gần như không phụ thuộc vào
áp lực Oxy trong nước.
Nồng độ muối ảnh hưởng tới cường độ trao đổi khí thông qua sự thay đổi
cường độ điều hoà thẩm thấu: khi thay đổi nồng độ muối làm tăng cường hoạt
động điều hoà thẩm thấu, cường độ hô hấp sẽ tăng lên. Trong trường hợp
ngược lại cường độ hô hấp sẽ giảm đi. Hiện tượng nầy thấy ở nhiều loài thực
vật và động vật khi nồng độ muối thay đổi (tôm, giun, cá, tảo). Trường hợp thứ
hai, cường độ hô hấp giảm đi khi nồng độ muối thay đổi khác với nồng độ muối
tối thuận đối với thuỷ sinh vật. Hiện tượng nầy thấy ở nhiều loài thân mềm, giun
và nhiều động vật khác. Sự thay đổi cường độ hô hấp theo sự thay đổi nồng độ
muối chỉ thấy trong thời gian đầu mà thôi. Sau một thời gian có hiện tượng thích
ứng của thuỷ sinh vật với với sự thay đổi của nồng độ muối và cường độ hô hấp
trở lại bình thường. Ngoài nồng độ muối chung, thành phần ion thay đổi cũng có
ảnh hưởng tới cường độ hô hấp. Hàm lượng Ca tăng làm giảm cường độ hô
hấp của nhiều thuỷ sinh vật. Cường độ hô hấp tăng khi mật độ cá thể trong
quần thể tăng cao hay khi nơi ở hẹp lại. nhưng khi mật độ quá cao, cường độ
hô hấp lại giảm đi. Đối với các thuỷ sinh vật sống thành bầy, cá thể trong bầy có
cường độ hô hấp thấp hơn khi sống lẻ loi.
3. Khả năng thích ứng với điều kiện thiếu Oxy của thuỷ sinh vật
Đa số thuỷ sinh vật là bọn sống cần Oxy. Chúng chỉ có thể sống trong một giới
hạn hàm lượng Oxy nhất định . Chỉ có một số ít, chủ yếu là vi khuẩn và động vật
nguyên sinh là có thể sống trong điều kiện kỵ khí. Đối với bọn sống cần Oxy, khi
điều kiện Oxy giảm xuống quá giới hạn chịu được, thường gọi là ngưỡng Oxy,
sẽ chuyển sang trạng thái sống tiềm sinh thiếu Oxy (anoxybiose) trong một thời
gian. Khi hàm lượng Oxy cao lên, chúng trở lại hoạt động bình thường. Nếu
hàm lượng Oxy tiếp tục giảm nữa sẽ gây chết cho thuỷ sinh vật.
Khả năng chịu điều kiện thiếu Oxy ở thuỷ sinh vật thay đổi theo từng loài và
theo sự thay đổi của tình trạng cơ thể và của môi trường ngoài.

Chương 5: Sự Phân Bố Của Thuỷ Sinh Vật Và Đời Sống


Quần Thể, Quần Loại Thuỷ Sinh Vật

Sự phân bố của thủy vật


Sự phân bố của thuỷ sinh vật hiện nay trong thủy quyển là kết quả của cả quá
trình hình thành lâu dài. Quá trình đó có quan hệ chặt chẽ với các biến cố trong
lịch sử địa chất với sự biến đổi các nhân tố vô sinh và hữu sinh của môi trường
nước trên trái đất. Chúng quyết định các hình thái phân bố của thủy sinh vật
trong thủy quyển. Nếu nhìn khái quát và trong từng thời điểm nhất định, có thể
coi tình hình phân bố chung của thủy sinh vật trong thủy quyển là ổn định.
Nhưng thực tế qua từng khoảng thời gian, sự phân bố của thủy sinh vật trong
thủy quyển lại có những biến động tuân theo những qui luật nhất định xảy ra
trong đời sống thủy vật. Tuỳ theo đặc điểm sinh học của từng nhóm, từng loài
thủy sinh vật làm cho sự phân bố của chúng trong thủy quyển trở nên phức tạp
hơn.

Phân bố theo vĩ độ (phân bố theo chiều ngang)

Phân bố thuỷ sinh vật theo vùng vĩ độ, tuân theo một số qui luật về thành phần
loài cũng như về đặc tính số lượng.
Tính đa dạng của thành phần loài tăng dần từ vùng cực về xích đạo.
Nguyên nhân do khu hệ thuỷ sinh vật nhiệt đới là khu hệ cổ, thành phần loài
phong phú, do các điều kiện sống ở vùng nhiệt đới thuận lợi, do nhịp điệu hình
thành loài ở vùng nhiệt đới mạnh hơn các vùng khác, tạo nên thành phần đa
dạng ở vùng nầy.
Số lượng thuỷ sinh vật giảm dần từ các vùng vĩ độ cao về xích đạo.
Nguyên nhân chính là ở vùng xích đạo nhiệt độ chênh lệch hằng năm không
lớn. Chu chuyển nước theo chiều thẳng đứng từ dưới sâu lên tầng mặt không
xảy ra nên không đưa được khối lượng muối dinh dưỡng tích tụ từ tầng sâu lên
mặt. Ở vùng ven xích đạo, nơi có nhiều dòng nước thẳng đứng như vậy, số
lượng thuỷ sinh vật tăng lên rõ rệt. Cũng có thể do điều kiện nhiệt độ cao,
cường độ trao đổi chất ở cơ thể thuỷ sinh vật vùng nhiệt đới cũng tăng cao nên
năng lượng tiêu hao vào hoạt động sống của thuỷ sinh vật cũng nhiều hơn, nên
làm giảm khối lượng sinh chất hình thành trong quá trình sinh trưởng và phát
triển. Nhìn chung các quần thể thuỷ sinh vật ở vùng vĩ độ thấp có số lượng cá
thể nhỏ hơn so với các quần thể thuỷ sinh vật ở vùng vĩ độ cao, do đó làm giảm
số lượng và khối lượng chung. Điều nầy có liên quan tới mức độ hạn chế của
độ sinh trưởng và sinh sản của thuỷ sinh vật ở vùng vĩ độ thấp.

Kích thước và độ mỡ của thuỷ sinh vật giảm dần từ các vùng vĩ độ cao về xích
đạo.
Hiện tượng nầy có thể thấy ở nhiều nhóm thuỷ sinh vật từ động vật nguyên sinh
tới thân mềm, giáp xác. Đây là kết quả của quá trình phát triển nhanh, chóng
trưởng thành, hạn chế kích thước sinh trưởng của sinh vật nhiệt đới trong điều
kiện nhiệt độ cao và đặc điểm thích ứng với chế độ ăn liên tục trong suốt cả
mùa vụ (không có giai đoạn ngừng ăn vào mùa lạnh), không cần tích trữ mỡ
như các sinh vật xứ lạnh.

Càng về phía xích đạo, thuỷ sinh vật biển càng dễ đi vào nước ngọt nội địa hơn.
Nói cách khác cường độ di nhập của sinh vật biển vào nước ngọt nội địa mạnh
hơn so với các vùng vĩ độ cao. Ở vùng xích đạo nhiệt đới, đặc biệt là vùng Đông
Nam Á, có hiện tượng nhiều nhóm sinh vật biển như cá, giáp xác, giun nhiều tơ,
dễ dàng đi vào các sông lớn, nhiều khi đi vào những điểm rất xa biển. Hiện
tượng nầy ít thấy ở các vùng vĩ độ cao. Sự sai khác giữa môi trường biển và và
nước ngọt nội địa dường như giảm bớt đi từ các vùng vĩ độ cao về xích đạo.
Hiện tương nầy được giải thích bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Ở vùng xích
đạo nhiệt đới có mưa nhiều làm nhạt hẳn nước các vùng ven biển, tạo điều kiện
cho các sinh vật biển, trước hết là động vật dễ thích ứng với điều kiện nước
nhạt ở các thuỷ vực nội địa. Hàm lượng Bicarbonate ở nước biển và nước ngọt
vùng nhiệt đới xấp xĩ như nhau. Điều nầy làm cho sinh vật biển khi đi vào nước
ngọt nội địa không gặp khó khăn lớn trong quá trình hô hấp. Vì Bicarbonate giữ
vai trò quan trọng trong hô hấp của thuỷ sinh vật. Trong lịch sử địa chất, vùng
nhiệt đới đã xảy ra nhiều hiện tượng biển tiến, biển lùi, tạo nên một khu hệ thuỷ
sinh vật có nhiều dạng thích ứng rộng muối, dễ dàng đi từ biển vào nước ngọt
nội địa.

Phân bố đặc trưng trong thủy quyển

Do những biến đổi của chế độ nhiệt độ, đặc biệt trong thời kỳ băng hà, vùng
phân bố của thuỷ sinh vật không còn liên tục mà bị ngắt quãng, tạo nên những
kiểu phân bố đặc trưng trong thuỷ quyển, mang một ý nghĩa đặc sắc về mặt địa
lý động vật như phân bố lưỡng cực, phân bố lưỡng bắc, phân bố hai bờ Thái
Bình dương và Đại Tây dương. Phân bố di lưu và phân bố ngắt quãng.

Phân bố theo chiều thẳng đứng

Phân bố theo chiều thẳng đứng của thuỷ sinh vật ở các thuỷ vực trên mặt đất
không đều, tương ứng với sự phân bố không đều của ánh sáng, nhiệt độ, khí
hoà tan, pH, áp lực nước và điều kiện thức ăn theo độ sâu trong thuỷ vực.
Hình thái phân bố của thuỷ sinh vật theo chiều thẳng đứng chỉ thấy rõ rệt ở các
thuỷ vực có độ sâu lớn và trong điều kiện tầng nước tương đối ổn định, không
bị xáo trộn.Trong các thuỷ vực nông dưới 1m, như ao, ruộng cấy lúa và các thuỷ
vực nước luôn bị xáo trộn như sông, phân bố thẳng đứng không thấy rõ rệt.
Phân bố thẳng đứng của thuỷ sinh vật thấy rõ ở sinh vật nổi và sinh vật đáy, vì
chúng là nhóm sinh vật di động chủ động kém và thể hiện ở cả thành phần loài,
cả về đặc tính số lượng.
Trong từng thuỷ vực và trong thuỷ quyển nói chung, càng xuống sâu, nhìn
chung, nhiều nhân tố sinh thái học của môi trường nước vô sinh cũng như hữu
sinh đều biến đổi theo chiều hướng càng lúc càng kém thuận lợi cho sự phát
triển bình thường của sinh vật: ánh sáng ít đi, hàm lượng O2 ít dần, CO2 tăng
lên, áp lực nước càng xuống sâu càng tăng, thức ăn nghèo dần đi … Một cách
tổng quát, phù hợp với qui luật chung nầy, phân bố thẳng đứng của thuỷ sinh
vật trong thuỷ quyển cũng theo qui luật càng xuống sâu, thành phần loài thuỷ
sinh vật càng nghèo, số lượng cũng ít đi. Qui luật nầy thể hiện ở tất cả các
nhóm thuỷ sinh vật: vi khuẩn, động vật, thực vật sống nổi cũng như ở đáy và
đặc biệt rõ rệt ở các thuỷ vực có độ sâu lớn như Hải Dương.

Phân bố theo các loại hình thủy vực

Hình thái phân bố thuỷ sinh vật theo các loại hình thuỷ vực rất đa dạng, do tính
chất phức tạp của các thuỷ vực trên trái đất về đặc tính thuỷ lý, hoá học. Trong
các nhân tố vô sinh quyết định đặc tính phân bố của thuỷ sinh vật theo thuỷ vực
thì nồng độ muối có vai trò hàng đầu. Nó tạo nên hai vùng phân bố lớn là thuỷ
sinh vật nước mặn biển, hải dương và thuỷ sinh vật nước ngọt nội địa. sau nồng
độ muối là chế độ thuỷ học, chế độ ánh sáng và các nhân tố khác cũng có ý
nghĩa quan trọng đối với phân bố thuỷ sinh vật theo thuỷ vực.
Mỗi loài thuỷ sinh vật có một đặc tính thẩm thấu, một khả năng điều hoà thẩm
thấu riêng. Vì vậy mỗi loài chỉ sống được trong một môi trường có nồng độ
muối, thành phần ion nhất định và có khả năng thích ứng với một biên độ dao
động nhất định của nồng độ muối. Có thể có những loài thích ứng muối rộng
hay thích ứng muối hẹp.
Theo đặc điểm về nồng độ muối của thuỷ vực chúng sống, trong đó tương ứng
với sự phân chia các thuỷ vực trên trái đất theo nồng độ muối. Có thể phân chia
thuỷ sinh vật sống trong thuỷ quyển thành bốn đơn vị phân bố: khu hệ thuỷ sinh
vật nước quá mặn, nước mặn, nước lợ và nước ngọt. Trong mỗi khu hệ thuỷ
sinh vật đều có một thành phần loài đặc trưng, gồm các loài thích ứng muối hẹp
là thành phần loài cơ bản. Đồng thời còn có một số ít loài thích ứng muối rộng,
từ các thuỷ vực có nồng độ muối khác di nhập vào. Xét về phương diện phân bố
cũng như về cấu tạo thành phần loài, có thể coi hai khu hệ thuỷ sinh vật nước
mặn và nước ngọt là hai đơn vị cơ bản nhất, là hai vùng phân bố lớn nhất của
thuỷ sinh vật trong thuỷ quyển. Khu hệ thuỷ sinh vật nước lợ mang tính chất một
đơn vị trung gian, ở trong một vùng phân bố chuyển tiếp. Khu hệ thuỷ sinh vật
nước quá mặn có vùng phân bố rất hẹp, hạn chế trong một số hồ nước mặn nội
địa. Sự biến đổi của nồng độ muối trong thuỷ vực, tăng lên hay nhạt đi, hay sự
di chuyển của thuỷ sinh vật sang các thuỷ vực có nồng độ muối khác nhau đều
làm thay đổi đặc tính của mỗi khu hệ thuỷ sinh vật, thay đổi hoạt động sống của
mỗi loài thuỷ sinh vật. Một khi sự thay đổi nồng độ muối vượt quá giới hạn 5 -
8% cao hơn hay thấp hơn, được coi là ngưỡng sinh lý của mô sinh vật.
Qui luật biến đổi chung của thuỷ sinh vật theo sự biến đổi của nồng độ muối là
khi nồng độ muối của môi trường tăng lên hay giảm đi, thành phần loài và
thường cả số lượng đều nghèo đi, kích thước cơ thể trung bình cũng giảm đi.
Trong trường hợp nồng độ muối biến đổi theo hướng hạ thấp (nước biển nhạt đi
hay sinh vật biển đi vào nước ngọt) số lượng trứng trở nên ít đi, nhưng kích
thước trứng lớn lên, chứa nhiều noãn hoàng hơn.

• Khu hệ thủy sinh vật nước mặn: Vùng phân bố của khu hệ thuỷ sinh vật
nước mặn là hải dương, các vùng ven biển lục địa, và các biển kín nội
địa. Khu hệ thuỷ sinh vật nước mặn bao gồm các sinh vật thích ứng với
nồng độ muối trong khoảng 30 -38%o. Khu hệ thuỷ sinh vật nước mặn là
khu hệ sinh vật cổ, gồm một số lượng và khối lượng lớn thuỷ sinh vật.
Tổng số loài sinh vật biển khoảng 300.000 loài. Thành phần loài khu hệ
thuỷ sinh vật nước mặn đặc trưng bởi nhiều nhóm động vật chỉ có ở biển
như da gai, san hô, Pogonophra, mực, động vật có vú ở biển. Trong
thành phần thực vật nổi (Phytoplankton) chiếm ưu thế là tảo khuê
(Diatomeae), tảo giáp (Peridieae), tảo lam phát triển rất kém. Trong thành
phần động vật nổi (Zooplankton) (1.200 loài) chiếm ưu thế là động vật
nguyên sinh, giáp xác nhỏ, trong đó chủ yếu là Copepoda (750 loài),
Euphausiacea (trên 80 loài), Mysidacea, Amphipoda (trên 300 loài). Ngoài
ra còn có các loại sứa dù, sứa ống, sứa lược, hàm tơ (Sagiha), thân mềm
sống nổi (Alciopidae, Tomopteridea). Thành phần sinh vật tự bơi ở biển
phong phú, gồm các nhóm: cá, bò sát biển, động vật có vú, mực, giáp xác
cao, đều là các đối tượng có giá trị khai thác cao. Thực vật đáy biển gồm
các loài tảo nâu, tảo đỏ, tảo lục chiếm ưu thế. Thực vật có hoa rất ít. Động
vật đáy biển rất đa dạng, có khi hầu như bao gồm cả từng ngành động vật
như hải miên, Bonyozoa, Brachiopoda, da gai, Pogonophra. Trong thành
phần động vật đáy chiếm ưu thế là giáp xác cao, thân mềm, giun nhiều tơ,
giun vòi, hải tiêu, da gai. Khối lượng sinh vật đáy lớn nhất ở vùng ven biển
và giảm dần theo độ sâu. Ngoài ra còn phải kể đến vi sinh vật biển, có vai
trò quan trọng trong nước, số lượng có thể tới 10 -100 nghìn cá thể/ml,
sống trong tầng nước và nền đáy
• Khu hệ thuỷ sinh vật nước ngọt: Bao gồm các thuỷ sinh vật thích ứng với
nồng độ muối trong khoảng 0,5 - 5%o. Vùng phân bố của chúng là các
thuỷ vực nước ngọt nội địa. Trong thành phần nầy có nhiều sinh vật ở
nước thứ sinh. Ngoài ra cũng có nhiều loài sinh vật biển rộng muối di
nhập vào theo đường cửa sông hay nước ngầm ven biển.

So sánh với khu hệ thuỷ sinh vật nước mặn hải dương ta thấy:

• Khu hệ thuỷ sinh vật nước ngọt kém đa dạng hơn, ít đơn vị phân loại hơn.
• Khu hệ thuỷ sinh vật nước ngọt có nhiều thực vật lớn có hoa, tảo lam và
tảo lục phát triển mạnh.
• Sinh vật nước ngọt có nhều biến đổi trong nội bộ loài, hình thành nhiều
đơn vị phân loại dưới loài và có nhiều dạng phân bố trên thế giới
(cosmopolit).
• Thuỷ sinh vật nước ngọt thường có kích thước trung bình nhỏ hơn, số
lượng trứng ít hơn, nhưng chứa nhiều noãn hoàng dự trữ.

Về nguồn gốc có thể của khu hệ thuỷ sinh vật nước ngọt có thể hình thành theo
ba đường: từ biển đi vào nước ngọt, từ trên cạn xuống nước ngọt và phát sinh
từ thuỷ vực nước ngọt.
Hiện tượng đi vào nước ngọt của sinh vật biển hiện nay vẫn còn tiếp diễn bằng
nhiều con đường như: qua các cửa sông và vùng nước lợ ven biển, qua các
vùng nước ngầm ven biển và qua vùng triều lên cạn rồi xuống nước ngọt.

• Khu hệ thủy sinh vật nước lợ: Gồm các sinh vật thích ứng với nồng độ
muối từ 1 - 30%o, trung bình từ 10-20 %o. Thành phần loài rất phức tạp,
có tính hổn hợp, gồm ba thành phần:
o Thuỷ sinh vật từ biển vào
o Thuỷ sinh vật từ nước ngọt di nhập vào
o Thuỷ sinh vật đặc trưng cho vùng nước lợ

Hai nhóm trên không có khả năng sinh sản, chỉ sống ở nước lợ trong giai đoạn
trước thời kỳ sinh sản, nhóm thứ ba có chu trình sống hoàn toàn ở nước lợ.
Biến đổi thành phần loài của các thuỷ vực nước lợ .

• Khu hệ thủy sinh vật nước quá mặn: Do nồng độ muối của thuỷ vực rất
cao (trên 47%o), muối hoà tan có thể đến bảo hoà nên chỉ có các sinh vật
hẹp muối sống được ở đáy. Thành phần loài ở vùng nước quá mặn
nghèo nàn, chủ yếu là nhóm giáp xác chân mang Phyllopoda (Artemia
salina sống được ở nồng độ muối 200%o, các loài trùng roi (Duniliella
salina, Asteromonas gracilis). Ngoài ra còn có một số loài ấu trùng muỗi
thích ứng với nồng độ muối cao (Culieoides salinarius, Chironomus
halophilus), giáp xác nhỏ (Diaptomus salinus) sinh sống khi nồng độ muối
ở dưới 100%o. Ở các thuỷ vực nước quá mặn ven biển, ngoài các dạng
sinh vật đặc trưng của thuỷ vực đó, còn có các thuỷ sinh vật biển di nhập
vào.

Biến động về phân bố của thủy sinh vật trong thủy quyển

Hình thái phân bố của thuỷ sinh vật trong thuỷ quyển không phải lúc nào cũng
ổn định. Trong từng thời gian, do nhiều nguyên nhân khác nhau, vùng phân bố
của nhiều nhóm, nhiêù loài của thuỷ sinh vật có những biến động làm thay đổi
hình thái phân bố của chúng trong thuỷ quyển. Biến động phân bố của thuỷ sinh
vật có thể xảy ra theo chiều ngang, từ vùng nầy qua vùng khác, hay cũng có thể
theo chiều thẳng đứng, từ vùng nông tới vùng sâu, từ tầng đáy lên tầng mặt. Xét
về tính chất của biến động có thể chia thành hai loại: biến động không có qui
luật và biến động có qui luật.

• Biến động không qui luật: Biến động nầy do nguyên nhân đột xuất,
thường là do nguyên nhân nhân tác, làm thay đổi vùng phân bố của sinh
vật theo một chiều, không thành chu kỳ. vùng phân bố của thuỷ sinh vật
được mở rộng hay hẹp lại, rồi không trở lại giới hạn ban đầu nữa.
• Biến động có qui luật: Biến động nầy có tính chất tuần hoàn, xảy do
những yêu cầu trong đời sống. Thuỷ sinh vật loại nầy, tuỳ theo đặc điểm
sinh học của chúng, ở từng thời kỳ trong chu trình sống di chuyển sang
một nơi khác, tạm thời thay đổi vùng phân bố của chúng. Hết thời kỳ nầy,
chúng trở lại giới hạn vùng phân bố ban đầu. Lối di chuyển có tính cách
tuần hoàn nầy rất đa dạng, do nhiều nguyên nhân, nhiều khi chưa được
giải thích rõ ràng. Có thể phân biệt các loại sau:
o Di chuyển trong đời sống: Đây là lối di chuyển của thuỷ sinh vật
trong một giai đoạn của chu trình sống ra khỏi vùng phân bố chính
thức để tìm nơi có điều kiện tốt, hoàn thành một khâu trong chu
trình sống của chúng như sinh đẻ, tìm thức ăn, trú đông….
o Di chuyển ngày đêm: Đây là hiện tượng di chuyển vĩ đại trong thuỷ
quyển, chúng có thể di chuyển chủ động (giáp xác, cá, ấu trùng
côn trùng sống đáy) hay thụ động. Các loại tảo do quang hợp,
trong cơ thể chứa đầy Oxy nên ban ngày nổi trên tầng mặt của
nước, đêm lại chìm xuống khi Oxy đã sử dụng hết. Phạm vi di
chuyển ngày đêm có thể từ vài mét đến vài trăm mét theo chiều
thẳng đứng, tuỳ thuộc vào chế độ nhiệt độ, nồng độ muối, chế độ
Oxy và độ lớn của cơ thể thuỷ sinh vật. Tốc độ di chuyển từ vài mét
đến hàng trăm mét/giờ. Nguyên nhân gây ra hiện tượng di chuyển
nầy thì rất nhiều, nhưng nguyên nhân sinh học là chủ yếu, ánh
sáng chỉ là yếu tố tín hiệu.
o Di nhập vào nội địa của thủy sinh vật biển: Đây là hiện tượng di
chuyển có chu kỳ và không có chu kỳ của sinh vật, chủ yếu là động
vật, thấy ở vùng biển ôn đới cũng như nhiệt đới. Chúng đi vào sâu
trong thuỷ vực nội địa, tạm thời hay vĩnh viễn.

Các sinh vật có khả năng di nhập là loài có vỏ chắc, đồng thời có khả năng điều
hoà áp suất thẩm thấu chủ động, thích ứng độ muối rộng và có khả năng di
động tốt. Nguyên nhân di nhập có thể để sinh sản, tìm thức ăn, tránh kẻ thù hay
ngẫu nhiên. Con đường di nhập thuận lợi và phổ biến là qua cửa sông hay qua
vùng nước lợ ven biển, nước ngầm ven biển và có thể xem đây là một trong
những con đường hình thành khu hệ thuỷ sinh vật nước ngọt từ khu hệ thuỷ
sinh vật biển. Trong cả quá trình nầy, sinh vật biển thích ứng dần với điều kiện
môi trường nước ngọt ở nhiều mức độ khác nhau. Căn cứ vào mức độ thích
ứng, có thể chia thuỷ sinh vật biển di nhập vào nước ngọt thành bốn nhóm.

• Nhóm di nhập tạm thời: Bao gồm các loài chỉ di nhập vào nước ngọt trước
hay trong thời kỳ sinh sản. Hết thời kỳ nầy, chúng trở về môi trường biển
để hoàn thành chu trình sống. Nếu không trở lại được thì chúng không thể
tiếp tục phát triển trong môi trường nước ngọt. Môi trường nước ngọt chỉ
là môi trường sống tạm thời.
• Nhóm di nhập thích ứng nước lợ

Gồm mhững sinh vật biển thích ứng với nồng độ muối thấp hơn nồng độ muối ở
hải dương, nhưng vẫn chưa tách biệt với đời sống nước mặn ở biển. Đây là
những thuỷ sinh vật nước lợ, có thể sống và sinh sản bình thường ở điều kiện
nước lợ và cả vùng nước ngọt tiếp cận, đồng thời vẫn có thể sống ở điều kiện
nước mặn hải dương.

• Nhóm di nhập thích ứng nước ngọt: Đây là các sinh vật biển đã thích ứng
hoàn toàn với điều kiện môi trường nước ngọt, sống và phát triển chủ yếu
ở nước ngọt nội địa. Tuy vẫn có khả năng sống ở nước lợ, nhưng không
còn khả năng sống ở vùng nước mặn hải dương.
• Nhóm di lưu: Khác với loài thuộc nhóm thứ ba, thường chỉ sống ở vùng
nước ngọt ven biển, các loài nầy phân bố ở các vùng hoàn toàn cách biệt
với môi trường biển, khác xa môi trường sống ở biển.

Đời sống quần thể và quần loại của thủy sinh vật

Quần thể (Population) là nhóm cá thể thuộc một loài sinh vật sống trong một khu
vực nhất định ở vùng phân bố của loài. Quần thể là hình thức tồn tại cụ thể của
loài trong thiên nhiên và là một thành phần của một quần loại sinh vật
(Biocoenosis) nhất định. Quần thể do nhiều cá thể tập hợp lại thành. Nhưng
trong tập hợp có mối quan hệ chặt chẽ và có qui luật giữa các cá thể. Điều nầy
làm cho quần thể trở thành một thể thống nhất có liên hệ mật thiết với môi
trường sống. Do đó, phải coi quần thể như một hình thái phát triển của chất sống
ở mức độ trên cá thể, đặc trưng bởi cấu trúc, quan hệ quần thể và biến động số
lượng của quần thể.

Đặc điểm cấu trúc quần thể thủy sinh vật

Cấu trúc quần thể đặc trưng bởi mật độ, phân bố các cá thể, thành phần sinh
trưởng và sinh dục trong quần thể.

• Mật độ quần thể: được thể hiện bằng số lượng sinh vật trên một đơn vị
thể tích hay diện tích. Số lượng sinh vật có thể được tính bằng số lượng
cá thể, khối lượng, trọng lượng khô hay calori.
• Phân bố các cá thể của quần thể trong thuỷ vực có thể không có thứ tự,
đồng đều hay phân bố thành điểm. Phân bố thành điểm là kiểu phân bố
đặc trưng của quần thể thuỷ sinh vật, do tính chất không đồng đều của
các điều kiện sống trong thuỷ vực, cả ở nền đáy và trong tầng nước.
• Thành phần sinh trưởng của quần thể là một đặc tính thích ứng của loài
bảo đảm cho một quần thể tồn tại được trong những điều kiện cụ thể của
môi trường. Thành phần sinh trưởng của quần thể một mặt phụ thuộc vào
vào đặc tính di truyền của loài. Mặt khác phụ thuộc vào những điều kiện
cụ thể của môi trường. Đặc điểm thành phần sinh trưởng của thuỷ sinh
vật là sự sai khác lớn về số lượng giữa các thành phần sinh trưởng và
các thế hệ.
• Thành phần sinh dục của quần thể cũng như thành phần sinh trưởng
mang đặc tính thích ứng, đảm bảo hiệu quả sinh sản của thuỷ sinh vật
trong điều kiện cụ thể biến động của môi trường. Thành phần sinh dục do
đặc tính di truyền của loài quyết định, đồng thời biến đổi theo điều kiện
môi trường ngoài.

Quan hệ quần thể ở thủy sinh vật

Quan hệ ăn thịt: chúng ăn thịt lẫn nhau trong trường hợp môi trường thiếu
thức ăn.
Quan hệ kết bầy: làm cho cá thể đực và cái, giao tử đực và cái dễ dàng gặp
nhau. Đồng thời giúp cho các cá thể dễ dàng trốn tránh kẻ thù. Trong bầy, các
cá thể có quan hệ theo trật tự nhất định, trật tự nầy đảm bảo sự lớn mạnh của
quần thể.
Quan hệ hổ trợ : các cá thể trong đàn giúp đỡ lẫn nhau khi một cá thể nào đó
gặp khó khăn.

Biến động số lượng quần thể

Số lượng của mỗi quần thể sinh vật luôn biến đổi tuỳ theo những điều kiện của
môi trường sống thuận lợi ít hay nhiều cho sự tồn tại và phát triển của các cá
thể. Đặc tính biến động số lượng của mỗi quần thể là do đặc tính của các quá
trình sinh sản, sinh trưởng, tử vong trong từng thời gian, phụ thuộc vào những
biến đổi của các điều kiện sống ở môi trường quyết định.
Có rất nhiều nhân tố sinh thái học của môi trường, ảnh hưởng tới biến động
quần thể thuỷ sinh vật. Nhưng có hai nhân tố được xem là quyết định nhất. Đó
là nguồn thức ăn của môi trường (nhân tố quyết định tăng thêm số lượng) và độ
tử vong (nhân tố quyết định giảm số lượng). Ngoài ra những nhân tố quan trọng
khác cũng không kém quan trọng như nhiệt độ, ánh sáng, vật ký sinh, mật độ
quần thể, chế độ Oxy … Nhưng các nhân tố nầy tác động tới số lượng quần thể
thường là thông qua hai nhân tố cơ bản trên.
Hai kiểu biến động số lượng quần thể ở thuỷ sinh vật: biến động có chu kỳ và
biến động không có chu kỳ.

• Biến động có chu kỳ: Đây là kiểu biến động số lượng, xảy ra một cách
tuần hoàn, có liên quan tới tính chất chu kỳ của các quá trình sống (sinh
sản, tử vong) của thuỷ sinh vật và tính chất chu kỳ của địa vật lý trong tự
nhiên (nhiệt độ, ánh sáng). Biến động có chu kỳ được thể hiện ở ba hiện
tượng thấy trong thuỷ vực:
• Theo ngày đêm: Chỉ thấy ở các quần thể thuỷ sinh vật có đời sống ngắn
(trong vòng 1 ngày) như vi khuẩn, tảo đơn bào, động vật nguyên sinh.
Các nhân tố quyết định là : thời gian sinh sản mạnh trong ngày và thời
gian bị ăn nhiều trong ngày.
• Theo mùa : Đây là kiểu biến động số lượng quan trọng và phổ biến của
thuỷ sinh vật trong các thuỷ vực. Nó có ý nghĩa lớn đối với việc khai thác
nguồn lợi sinh vật thuỷ vực. Biến động theo mùa có nguyên nhân xa ở sự
biến đổi chu kỳ nguồn năng lượng bức xạ mặt trong năm, làm biến đổi
tuần hoàn chế độ ánh sáng và chế độ nhiệt trong thuỷ vực. Từ đó ảnh
hưởng tới các quá trình sống của thuỷ sinh vật (sinh sản, quang hợp) một
cách có chu kỳ. Có thể coi đây là nhân tố cơ bản quyết định biến động số
lượng theo mùa. Ngoài ra còn có thể có những nhân tố khác như chế độ
oxy, nồng độ muối, chu chuyển nước, nhưng các nhân tố nầy lại phụ
thuộc vào sự biến đổi nhiệt độ nước. Biến động số lượng theo mùa đã
hình thành nên khái niệm “mùa sinh học”, Bogorov đã phân chia bốn mùa
trong hải dương như sau:

* Mùa xuân sinh học là lúc ánh sáng mạnh, muối dinh dưỡng cao. Thực vật nổi
phát triển mạnh, động vật nổi phát triển yếu. Tỷ số khối lượng thực vật phù du
(Phytoplankton) và động vật phù du (Zooplankton): P/Z = 10 -100.
* Mùa hạ sinh học là lúc nhiệt độ cao, ánh sáng mạnh, nước nghèo muối dinh
dưỡng. Thực vật nổi và động vật nổi phát triển mạnh. Tỷ số khối lượng thực vật
phù du (Phytoplankton) và động vật phù du (Zooplankton): P/Z = 1 hay thấp hơn
1.
* Mùa thu sinh học là lúc nhiệt độ trung bình, ánh sáng yếu, nước nghèo muối
dinh dưỡng. Thực vật nổi phát triển yếu, động vật nổi còn phát triển mạnh. Tỷ
số khối lượng thực vật phù du (Phytoplankton) và động vật phù du
(Zooplankton): P/Z = thấp hơn 1.
* Mùa đông sinh học là lúc nhiệt độ trung thấp, ánh sáng yếu, nước giàu muối
dinh dưỡng. Thực vật nổi và động vật nổi phát triển kém, ngừng sinh sản. Tỷ số
P/= thấp hơn 1.
Guria nova (1972) khi nghiên cứu về biến động số lượng quần thể có nhận định
sau:

• Biến động số lượng theo mùa của sinh vật nổi biển nhiệt đới có tính chu
kỳ, nhưng lịch xuất hiện không ổn định mà thay đổi năm này qua năm
khác. Nhất là vùng ven bờ, phụ thuộc vào sự biến đổi theo chu kỳ năm
của các nhân tố khí tượng.
• Nếu ở vùng cực biến động số lượng theo mùa của sinh vật nổi có tính
chất một chu kỳ (có một cực đại). Ở vùng ôn đới có tính chất hai chu kỳ
(có hai cực đại) thì ở vùng biển nhiệt đới có thể coi là có tính chất đa chu
kỳ.
• Biến động số lượng sinh vật nổi biển nhiệt đới không lớn.
• Số lượng sinh vật nổi, đặc biệt là thực vật nổi vùng khơi không lớn lắm.
Trong khi đó vùng ven bờ lớn hơn gấp hàng ngàn lần.

+ Biến động theo năm: Phụ thuộc vào các biến động theo chu kỳ năm của các
nhân tố địa vật lý như biến đổi hoạt động của mặt trời theo chu kỳ 9 -11 năm.
Biến đổi của mực nước, độ mặn theo chu kỳ năm.
+ Biến động không chu kỳ: Do những nguyên nhân đột xuất gây nên, phổ biến
nhất là hiện tượng nhiễm bẩn thuỷ vực.

Sinh trưởng ở thủy sinh vật

Các khái niệm


* Sinh trưởng cá thể là quá trình chuyển hoá khối lượng cá thể lớn lên. Sinh
trưởng cá thể đặc trưng cho cá thể và giới hạn bởi tuổi thọ của cá thể.
* Sinh trưởng quần thể là sự tạo mới trong quần thể các cá thể và sự tăng sinh
vật lượng tổng cộng của các cá thể. Nghĩa là các quá trình tạo ra số lượng sinh
vật và tích luỹ chất hữu cơ trong sinh vật nhờ đồng hoá các điều kiện ngoại
cảnh. Sinh trưởng quần thể đặc trưng bởi hai chỉ số: chỉ số sinh sản và chỉ số tử
vong.
* Sự phát triển là sự tạo mới các cơ quan và sự chuyển hoá bên trong của cơ
thể sinh vật. Thường trong vòng đời thuỷ sinh vật được chia thành các giai đoạn
khác nhau. Mỗi giai đoạn có đặc trưng riêng về tính chất sinh lý bên trong cơ thể
(chọn lọc thức ăn, tính chất thức ăn …). Về tính chất sinh thái, nó đòi hỏi những
yếu tố về môi trường nhất định. Ví dụ: Giai đoạn còn non sinh vật đòi hỏi nhiều
ánh sáng hơn.
* Sinh sản là quá trình thực hiện để duy trì nòi giống (sinh sản hữu tính, sinh
sản vô tính). Ở môi trường nước, cần chú ý đặc biệt đến hiện tượng đơn tính
cái.
Tuổi và sinh trưởng cá thể

• Tuổi và sự hình thành vòng tuổi: Đặc điểm sinh trưởng của cá có tính chất
chu kỳ như mọi động vật biến nhiệt khác. Nghĩa là trong một năm có thời
gian cá lớn nhanh, có thời gian cá lớn chậm. Loewenhook (1684) đã
chứng minh trên vảy và xương cá có có những vòng liên hệ đến các thời
kỳ sinh trưởng nhanh hay chậm của cá. Căn cứ vào những vòng nầy ta
xác định được tuổi cá.
• Tuổi tối đa - Già - Chết: Ở cá có sự liên hệ chặt chẽ giữa tuổi và kích
thước, thường cá có tuổi cao, kích thước lớn. Các cá sống lâu thường là
cá cổ (nguyên thuỷ) bơi chậm, sống ở đáy có thể thích nghi với những
biến đổi của môi trương như Oxy, nhiệt độ, nồng độ muối … Ví dụ : cá
mập, cá chép.

Cá có đời sống ngắn thường có đặc điểm ngược lại. Tuổi tối đa của cá trong tự
nhiên ít khi biết được và ít gặp cá chết tự nhiên. Đối với cá nuôi trong bồn, có cá
tầm Acipenser đạt 69 tuổi (Amsterdam), cá chép 38 tuổi (Frankfurt).
Thời gian sống của cá liên hệ chặt chẽ với quá trình trao đổi chất. Nhiều loài cá
chết hàng loạt sau lần sinh sản đầu tiên. Ví dụ Cá chình (Anguilla) sau lần sinh
sản đầu tiên cá chết 100%. Sự chết hàng loạt có ý nghĩa thích nghi và xác cá bố
mẹ phân huỷ trong nước sẽ làm tăng lượng chất hữu cơ, giúp cho sự phát triển
phiêu sinh vật, làm cơ sở thức ăn cho cá con.

• Sinh trưởng cá thể


o Hình thức sinh trưởng:
ƒ Ở cá sự tăng trưởng xảy ra liên tục trong mọi giai đời sống
của cá. Ta chỉ có thể phân biệt rõ giai đoạn phôi và toàn bộ
giai đoạn còn lại. Thật khó phân biệt giữa cá trưởng thành
(Adult) và chưa trưởng thành (Subadult).
ƒ Ở giáp xác: (tôm, cua) sự tăng trưởng mang tính chất gián
đoạn, do bị vỏ giáp khống chế, muốn tăng trưởng và lớn lên
phải lột xác.

• Tăng trưởng - Tốc độ tăng trưởng - Chỉ số tăng trưởng

• Tăng trưởng là hiệu số của khối lượng (P), chiều dài (L) của cá tại một
thời điểm nào đó so với kích thước ban đầu hoặc khối lượng ban đầu.

Ví dụ: t1 -> Pt1


t2 -> Pt2
Pt2 - Pt1 : Sự tăng trưởng
• Tốc độ tăng trưởng là sự tăng trưởng trên một đơn vị thời gian.

Ví dụ: mg/ngày, mm/ngày.

• Chỉ số tăng trưởng: Tốc độ tăng trưởng được so sánh với kích thước ban
đầu, hoặc trọng lượng ban đầu thì được gọi là chỉ số tăng trưởng.

• Lo: kích thước ban đầu


• Po: trọng lượng ban đầu

• Độ béo và độ mỡ

Độ béo là hằng số K trong đẳng thức: P = K L3


hoặc :

• Độ mỡ :là khối lượng mỡ trong cơ thể cá.

Khi xác định độ mỡ cần lưu ý : độ mỡ thay đổi theo giống, loài, giới tính, tuổi,
mùa vụ…. Prozopski đã phân chia ball mỡ cá bằng thang 5 bậc:

• Ball 0 : Ruột không có mỡ.


• Ball 1: Chỉ có một dãy mỡ mỏng nằm giữa phần 2 - 3 của ruột.
• Ball 2 : Có một dãy mỡ hẹp khá dày ở giữa phần 2 - 3 của ruột.
• Ball 3: Có một dãy mỡ rộng ở giữa phần 2 - 3, cả hai mép trên và dưới. Ở
phần ruột gần hậu môn có một lớp mỡ mỏng.
• Ball 4: Ruột hầu như bị mỡ hoàn toàn che phủ, nhưng còn ít chỗ trống,
qua đó ta vẫn còn thấy ruột.
• Ball 5: Lượng mỡ che phủ hoàn toàn kín cả ruột, không có chỗ trống.

Trong quá trình phát triển tuyến sinh dục, thời gian đầu tăng độ lớn của tuyến
sinh dục và độ mỡ. Khi thức ăn giảm, độ mỡ giảm rất nhanh. Riêng tuyến sinh
dục vẫn tiếp tục tăng trưởng. Khi cá bị đói thì lượng mỡ ở tuyến sinh dục của cá
bị tiêu thụ. Ngoài ra độ mỡ còn bảo đảm cho lượng noãn hoàng trong sản phẩm
sinh dục của cá. Ở các loài cá khác nhau, độ mỡ tích luỹ ở những nơi khác
nhau.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cá thể
• Các yếu tố bên trong:
o Đặc tính di truyền
o Kích thước trứng
o Kích thích tố tăng trưởng
o Tính đực, cái.
• Các yếu tố bên ngoài
o Thức ăn
o Các nhân tố lý, hoá học của môi trường: nhiệt độ nước, ánh sáng,
không gian sống …
o Ảnh hưởng chu kỳ của sự biến động các nhân tố lý, hoá học: nhiệt
độ, ánh sáng thức ăn là những nhân tố biến động theo chu kỳ, làm
ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của cá. Vì vậy sự tăng trưởng
của cá mang tính chu kỳ.

Sinh trưởng quần thể


* Sự sinh trưởng quần thể
Trong trường hợp số lượng cá thể ở thời gian đầu nhỏ hơn số lượng cá thể
thấy ở thời gian sau và trong điều kiện môi trường sống không có ảnh hưởng
hạn chế sinh trưởng của quần thể trong một thời gian dài (điều kiện lý tưởng),
đường cong biểu diễn độ tăng số lượng cá thể trong quần thể (đường cong sinh
trưởng) sẽ có hình chữ J và công thức tính sẽ là:

Nt = Noert

• Nt : số lượng cá thể của quần thể ở thời điểm t


• No : số lượng cá thể ban đầu
• r : tốc độ tăng trưởng đặc trưng của quần thể
• e : cơ số logarit tự nhiên

Trong điều kiện môi trường sống có ảnh hưởng hạn chế tới quá trình sinh
trưởng của quần thể (điều kiện thực tế), đường cong biểu diễn sẽ có hình chữ
S. Đường cong sinh trưởng, trong trường hợp nầy gồm có bốn pha, thể hiện
bốn giai đoạn sinh trưởng của quần thể. Trong giai đoạn đầu, số lượng quần thể
tăng chậm (pha gia tăng dương), sau đó tăng rất nhanh (pha logarit) rồi lại đến
giai đoạn tăng chậm lại (pha gia tăng âm) và sau cùng đến giai đoạn cân bằng.
Ở pha cân bằng số lượng cá thể sinh ra và mất đi gần bằng nhau.

• Cơ cấu nhóm tuổi ( Age group)

Trong một chủng quần, qua một thời gian nào đó, các cá thể trong chủng quần
có chết đi và có sinh ra, tạo nên các nhóm tuổi khác nhau.
Mỗi nhóm tuổi gồm các cá thể được đẻ ra cùng một mùa trong một năm. Sự so
sánh các nhóm tuổi nói lên quần thể đó đang phát triển hay thoái hoá.

• Quần thể đang phát triển mạnh gồm nhiều cá thể nhỏ tuổi.
• Quần thể thăng bằng có cơ cấu nhóm tuổi đồng đều.
• Quần thể đang thoái hoá gồm nhiều cá thể già .

Trong một quần thể có thể thay đổi về cơ cấu nhóm tuổi, nhưng không thay đổi
số cá thể. Cơ cấu nhóm tuổi của các loài cá đều có những nét đặc trưng:
Thường cá sống ngắn thì quần thể gồm một số ít nhóm tuổi. Các loài cá nầy
thành thục sớm và có khả năng khôi phục đàn nhanh chóng.
Các loài cá lớn sống lâu, quần thể gồm nhiều nhóm tuổi hơn. Chúng có tuổi
phát dục cao, khả năng khôi phục đàn chậm, thích nghi nơi cơ sở thức ăn
tương đối ổn định.

Đặc điểm của quần loại thủy sinh vật

Thuỷ vực là những môi trường sống cụ thể của thuỷ sinh vật trong thiên nhiên.
Trong mỗi thuỷ vực có cả một tập hợp sinh vật (động vật, thực vật, vi sinh vật,
nấm) tạo thành một quần xã đặc trưng riêng cho từng loại thuỷ vực. Quần xã
thuỷ sinh vật và thuỷ vực tạo thành một hệ thống sinh thái có quan hệ qua lại
mật thiết với nhau và liên hệ với môi trường ngoài thuỷ vực.
Môi trường sống trong thuỷ vực không phải hoàn toàn đồng nhất, mà điều kiện
sống của từng bộ phận ở thuỷ vực (khối nước, nền đáy, vùng bờ, vùng khơi, …)
lại sai khác nhau về các đặc điểm thuỷ lý, hoá, cơ học. Tương ứng với những
sai khác nầy của các bộ phận ở thuỷ vực - các sinh cảnh - mỗi quần xã thuỷ
sinh vật lại chia thành nhiều quần loại sinh vật (biocoensis) có thể coi là những
cấu trúc bộ phận của quần xã trong thuỷ vực, thích ứng với điều kiện sống của
từng loại sinh cảnh như: sinh vật nổi, sinh vật đáy, sinh vật vùng triều … Nghiên
cứu đời sống của các quần loại thuỷ sinh vật trong mối quan hệ của chúng trong
thuỷ vực, thể hiện chủ yếu ở quá trình chuyển hoá vật chất và năng lượng ở các
bậc khác nhau là một trong những vấn đề cơ bản của thuỷ sinh học.
Quần loại thuỷ sinh vật (Biocoenosis) là tập hợp các quần thể sinh vật thuộc các
loài khác nhau, cùng sống trong một sinh cảnh có cấu trúc nhất định Quần loại
thể hiện một bước phát triển cao của quá trình phát triển chất sống. Nó có vai
trò và vị trí nhất định trong quá trình chuyển hoá vật chất và năng lưởng thuỷ
vực.
Mỗi quần loại thuỷ sinh vật được đặc trưng bởi thành phần loài, đặc tinh định
tính và định lượng của chúng. Mối quan hệ giữa các loài với nhau và với các
nhân tố sinh thái của môi trường vô sinh. Mức độ tổ chức cao của quần loại sinh
vật thể hiện ở các bậc chuyển hoá vật chất và năng lượng ngày càng cao. Sự
chuyển hoá nầy xảy ra trong quần loại, thường được gọi là cá bậc dinh dưỡng.
Các bậc dinh dưỡng càng cao, năng lượng tiêu hao đi càng nhiều, đồng thời
cấu trúc của quần loại sinh vật cũng phức tạp hơn, khối lượng thông tin nhiều
hơn và do đó cũng bền vững hơn.
Trong một quần loại sinh vật bao giờ cũng có một loài hay một số loài giữ vai trò
chủ yếu, tạo thành hạt nhân của quần loại sinh vật, gọi là loài ưu thế. Loài ưu
thế được xác định bằng tính chất quan trọng của loài đó trong quần loại sinh vật
về mặt số lượng, khối lượng hay vai trò của loài đó trong chu trình chuyển hoá
vật chất và năng lượng. Loài ưu thế thể hiện tiêu biểu nhất, đầy đủ nhất đặc tính
cấu trúc của quần loại sinh vật. Loài ưu thế cũng giữ vai trò quyết định trong
biến đổi cấu trúc của quần loại sinh vật.
Quan hệ giữa loài ưu thế và quần loại sinh vật được thể hiện ở qui luật sau:
quần loại sinh vật càng lớn về số lượng, loài ưu thế trong quần loại cũng càng
lớn về mặt số lượng.
Về mặt chuyển hoá vật chất và năng lượng, quần loại thuỷ sinh vật gồm ba
nhóm thành phần: sinh vật sinh sản (producent), tiêu thụ (consument) và phân
huỷ (reducent). Trong quan hệ số lượng, qui luật chung là bọn tiêu thụ bao giờ
cũng ít hơn về số lượng và khối lượng so với bọn sinh sản. Bọn tiêu thụ bậc hai
lại ít hơn bọn tiêu thụ bậc nhất. Bọn phân hủy (vi khuẩn) về số lượng cá thể bao
giờ cũng lớn, nhưng về khối lượng không lớn lắm, do kích thước nhỏ.
Các qui luật về hình tháp số lượng và khối lượng ở quần loại thuỷ sinh vật cũng
giống như sinh vật ở cạn. Do sự tiêu hao vật chất và năng lượng trong quá trình
chuyển từ bậc dinh dưỡng thấp tới bậc cao hơn. Nói chung số lượng và khối
lượng thuỷ sinh vật giảm dần đi từ bậc thấp tới bậc cao.
Cấu trúc thức ăn của quần loại thuỷ sinh vật được xác định bởi quan hệ số
lượng giữa các dạng sinh vật có kiểu ăn khác nhau. Khối lượng của quần loại
thuỷ sinh vật càng lớn, tức là lượng thức ăn trong một sinh cảnh càng lớn, cấu
trúc thức ăn của quần loại sinh vật càng đơn dạng, vai trò của loài ưu thế càng
lớn. Khi số lượng thức ăn ở các sinh cảnh giảm đi, như trong trường hợp các
thuỷ vực ở vùng nhiệt đới, khối lượng của quần loại thuỷ sinh vật giảm đi, vai trò
của các dạng ưu thế cũng sẽ giảm đi, do đó cấu trúc thức ăn của quần loại sinh
vật cũng trở nên đa dạng hơn.
Phần lớn thuỷ sinh vật có kích thước nhỏ. Điều nầy phù hợp với lối sống trôi nổi
trong tầng nước của sinh vật nổi (khối lượng nhỏ, diện tiếp xúc lớn). Kích thước
nhỏ của bọn thuỷ sinh vật sản sinh (thực vật nổi) và các thuỷ sinh vật tiêu thụ
bậc thấp (động vật nổi) còn là điều kiện để hình thành các chuổi thức ăn dài
trong thuỷ vực, phù hợp với qui luật tăng kích thước của các bậc dinh dưỡng từ
thấp tới cao.
Do kích thước nhỏ, cường độ trao đổi chất lớn, nhịp sinh sản nhanh, nên mật
độ thuỷ sinh vật sản sinh ở các bậc dinh dưỡng thấp thường rất lớn, có khi tới
hàng triệu cá thể trong một lit nước. Mật độ lớn như thế nầy, ở sinh vật sống
trên cạn chỉ thấy có vi khuẩn. Cũng do đặc tính nầy, quan hệ giữa vật sản sinh
với vật tiêu thụ về mặt khối lượng, ở môi trường nước rất khác với môi trường
cạn. Khối lượng thực vật ở cạn lớn hơn khối lượng động vật gấp 2.000 lần.
Trong khi đó, ở môi trường nước hải dương thì ngược lại, khối lượng động vật
lại lớn hơn khối lượng thực vật từ 10 -15 lần. Nhưng do nhịp sinh sản nhanh
nhờ điều kiện sống ở môi trường nước thuận lợi, nên có thể có tới hàng trăm
thế hệ trong một năm (thực vật nổi). Do đó sản lượng thực vật sản sinh ra rất
lớn, bảo đảm thức ăn cho động vật.
Đặc điểm quan trọng thứ hai của quần loại thuỷ sinh vật là có quan hệ thức ăn
rất phức tạp, sơ đồ quan hệ thức ăn thường có nhiều nhánh. Một đặc điểm khác
của quần loại thuỷ sinh vật là có mối quan hệ sinh hoá khá chặt chẽ giữa các cơ
thể cùng sống trong một vùng nước, nhờ đặc tính hoà tan tốt của nước, gắn liền
cơ thể sống với môi trường nước và giữa chúng với nhau.

Sự phân chia các quần loại sinh vật trong thủy vực và đặc điểm
thích ứng

Thuỷ vực không phải là một môi trường sống hoàn toàn đồng nhất về mọi điều
kiện của môi trường vô sinh cũng như hữu sinh, mà bao gồm nhiều loại sinh
cảnh khác nhau. Trong mỗi sinh cảnh có một quần loại sinh vật bao gồm các
dạng sinh vật sống thích ứng với điều kiện sống của sinh cảnh đó. Các sinh
cảnh không phải chỉ đơn thuần là từng nơi ở cụ thể trong thuỷ vực, mà được
xác định bởi cả một phức hợp các nhân tố vô sinh, gắn liền với các đặc điểm
của những hoạt động sống thuỷ sinh vật. Do đó quyết định vai trò của chúng
trong quá trình chuyển hoá vật chất và năng lượng trong thuỷ vực cũng như
trong sự phát triển của hệ thống sinh thái thuỷ vực.
Có thể chia môi trường sống trong thuỷ vực thành ba sinh cảnh lớn: vùng triều,
(hay vùng ven bờ), tầng nước và nền đáy. Ba vùng sinh cảnh nầy sai khác nhau
rất cơ bản về đặc điểm các điều kiện sống:

• Vùng triều: nằm ở giới hạn giữa môi trường trong thuỷ vực và ngoài thuỷ
vực. Ở vùng nầy có cả điều kiện sống trong nước và trên cạn.
• Tầng nước: hoạt động sống của thuỷ sinh vật ở đây chủ yếu dựa vào khối
nước với các đặc tính lý, hoá, cơ học của môi trường nầy.
• Nền đáy: điều kiện sống ở đây quyết định bởi nền đất nằm dưới khối
nước. Do đó điều kiện sống vừa phụ thuộc vào nền đất ở đáy thuỷ vực,
vừa phụ thuộc vào tầng nước.

Trong mỗi vùng trên có một tập hợp sinh vật đặc trưng thích ứng với điều kiện
sống cơ bản của từng vùng. Đồng thời, trong mỗi tập hợp nầy, lại có thể phân
biệt từng quần loại sinh vật thích ứng với từng loại sinh cảnh cụ thể của mỗi
vùng đó.
1. Thủy sinh vật vùng triều
Điều kiện sống ở vùng nầy luôn thay đổi, khi có nước, khi khô cạn theo mức
nước, nồng độ muối luôn thay đổi, nước luôn xáo trộn, áp lực nước thấp, oxy,
nhiệt độ, nhiệt độ ánh sáng gần như ở môi trường không khí.
Sinh vật vùng nầy có những đặc điểm sau:
• Thích ứng sinh thái rộng về oxy, nhiệt độ và nồng độ muối. Sinh vật dễ
dàng chuyển sang môi trường sống khác như vào nước ngọt hay lên cạn.
• Sinh vật có khả năng hô hấp ở nước và trên cạn.
• Sinh vật thích ứng hẹp về về áp lực nước.
• Cấu tạo cơ thể theo kiểu dẹp hay có chân bám chắc.

2. Thủy sinh vật trong tầng nước


Điều kiện sống của sinh vật ở tầng nước tương đối ổn định và đồng nhất. Đặc
điểm thích ứng của nhóm sinh vật nầy chủ yếu làm sao cho sự vận động trong
môi trường nước được thuận lợi. Có thể chia nhóm nầy thành nhiều quần loại
sinh vật khác nhau.

• Sinh vật sống trôi (Pleiston) là bọn sống trôi trên mặt nước, nửa cơ thể
trong không khí, nửa dưới nước.
• Sinh vật màng nước (Neiston) bao gồm các động vật sống quanh màng
nước. Nhờ sức căng bề mặt của nước, chúng có thể sống ở mặt trên
(epineiston) hay mặt dưới màng nước (hyponeiston). Có bọn sống thường
xuyên ở đó. Có bọn chỉ sống một thời gian (ấu trùng nhiều loại động vật).
Đặc điểm thích ứng của bọn nầy thể hiện ở vỏ cơ thể không ngấm nước,
chống lại được tác dụng của tia cực tím ở mặt nước, có quang hướng
động dương, màu sắc nguỵ trang, lối ăn màng nước.
• Sinh vật nổi (Plankton), bao gồm các sinh vật sống trôi nổi một cách thụ
động hoặc vận động rất yếu trong các lớp nước ở tầng mặt, chủ nhờ vào
chuyển động của khối nước mà di chuyển. Sinh vật nổi bao gồm: vi khuẩn
sống nổi (bacterioplankton), thực vật vật nổi (phytoplankton) và động vật
nổi (zooplankton). Về mặt chuyển hoá vật chất, sinh vật nổi bao gồm các
sinh vật sản sinh (thực vật nổi), các sinh vật tiêu thụ bậc thấp (động vật
nổi) và các sinh vật phân huỷ (vi khuẩn sống nổi).

Theo kích thước cơ thể , có thể chia ra

• Sinh vật nổi cực lớn (megaloplankton), kích thước trên 1m : sứa lớn.
• Sinh vật nổi lớn (macroplankton) kích thước 10 100cm: sứa nhỏ hàm tơ.
• Sinh vật nổi vừa (mesoplankton), kích thước 1-10mm: giáp xác nhỏ.
• Sinh vật nổi nhỏ (microplankton), kích thước 0,05 -1 mm: rotifer, tảo đơn
bào, các loại ấu trùng.
• Sinh vật nổi cực nhỏ (nanoplankton), kích thước vài micron: vi khuẩn,
động vật nguyên sinh.

Tuỳ theo giai đoạn, sinh vật sống nổi theo lối sống nổi ở các lớp nước tầng mặt
mà có thể chia ra:

• Sinh vật nổi hoàn toàn (holoplankton) có toàn bộ đời sống ở trong tầng
nước; chỉ có giai đoạn trứng nghỉ, bào xác là ở đáy thuỷ vực.
• Sinh vật nổi không hoàn toàn (meroplankton), chỉ có giai đoạn ấu trùng là
sống trong tầng nước. Đây là trường hợp ấu trùng các sinh vật đáy như
thân mềm, da gai.

Đặc điểm thích ứng của sinh vật nổi, chủ yếu là bảo đảm cho sinh vật dễ dàng
nổi trong tầng nước mặt, sao cho tốc độ chìm chậm nhất.
Theo Ostwald công thức tính tốc độ chìm:

Với

• a: tốc độ chìm
• b: hiệu số giữa khối lượng riêng của vật và nước.
• d: sức cản, phụ thuộc hình dạng vật trong nước.

Nhìn chung, sinh vật nổi thích ứng với đời sống nổi theo hai hướng:

• Giảm trọng lượng còn lại b bằng cách tiêu giảm tiêu giảm bộ xương, thải
bớt chất muối nặng, tích trữ các chất khí và mỡ.
• Tăng sức cản d trong nước bằng cách tăng diện tích tiếp xúc của cơ thể
với khối nước.

- Sinh vật tự bơi (Nekton) là thành phần quan trọng trong các quần loại thuỷ sinh
vật ở trong tầng nước. Chúng bao gồm các động vật có kích thước lớn (cá,
mực, động vật có vú) và phần lớn các đối tượng được khai thác. Sinh vật tự bơi
đều là các sinh vật tiêu thụ ở các bậc dinh dưỡng khác nhau, có cấu tạo cơ thể
phức tạp. Đặc điểm quan trọng nhất là có cơ quan vận động chủ động, tích cực.
Đặc điểm thích ứng chủ yếu của bọn nầy là cơ thể cấu tạo hình thuỷ lôi, hai đầu
vuốt nhọn, để giảm sức cản phía trước khi di động. Lối sống di động chủ động,
cách lấy thức ăn có phân biệt ở mức độ cao (rình mồi, đuổi mồi). Sinh vật tự bơi
sống ở các tầng nước từ mặt xuống đáy.
- Thuỷ sinh vật ở nền đáy : theo vị trí, có thể chia thuỷ sinh vật ở nền đáy làm
hai nhóm: nhóm sống trên mặt nền đáy (epifauna) và nhóm sống chui trong nền
đáy (infauna). Thích ứng của sinh vật đáy là phát triển cơ quan bám và biến đổi
hình thái, để khỏi bị cuốn ra khỏi nơi cố định, phát triển các cơ quan bảo đảm
cho con vật khỏi bị vùi lấp dưới đáy.
Chương 6: Sinh Sản Và Di Cư Của Thuỷ Sinh Vật

Sinh sản ở thủy sinh vật


Di cư của thủy sinh vật
Ý nghĩa và các hình thức di cư

Di cư là sự thay đổi chỗ của hàng loạt cá thể trong loài, thường có tính chủ
động (đôi khi thụ động) từ một nơi nầy sang một nơi khác. Sự di cư là đặc điểm
thích nghi đối với nhiều loài thuỷ sinh vật, để tăng số lượng chủng quần trong
những điều kiện môi trường thay đổi.
Di cư khiến cho cá sử dụng được những nguồn thức ăn to lớn, giúp cá bảo vệ
trứng và cá con, giúp cá tránh những điều kiện khắc nghiệt của môi trường như
giảm nhiệt độ, tăng nồng độ muối. Đa số cá đều di cư vì ít có loài cá nào tìm
được đầy đủ những điều kiện tối hảo cho sự sinh tồn của loài tại một nơi nhất
định. Có một số cá định cư như cá bống ở đáy và các loài cá sống trong đảo
san hô.
Di cư và sự di chuyển hàng loạt có tính chất bảo vệ được phân biệt rõ rệt. Ví dụ
: Khi biển có sóng lớn, cá trên tầng mặt xuống tầng đáy. Cá trong bờ đi ra khơi
xa. Trong sông khi mực nước giảm cá di chuyển vào đầm, hồ. Di chuyển có tính
đột xuất và không lặp lại trong mọi thế hệ của loài. Các hình thức di cư:

• Di cư sinh sản
• Di cư dinh dưỡng
• Di cư trú đông.

Không phải bất cứ loài nào cũng thực hiện cả 3 loại di cư kể trên. Đối với một
loài sự di cư nhất định cần thiết cho sự sinh tồn. Đối với cá chịu nhiệt thấp,
không di cư trú đông, chỉ di cư dinh dưỡng và sinh sản. Cá có nơi sinh sản và
nơi di cư đến trùng nhau thì không phải di cư.
Ngay trong cùng một loài, sự di cư sinh sản chỉ xảy ra đối với cá đã trưởng
thành về sinh dục. Tuỳ theo cá sử dụng năng lượng vận động vào việc di cư
hay không để chia ra hai loại :

• Di cư thụ động (không dùng năng lượng vận động).


• Di cư chủ động (dùng năng lượng vận động).

Di cư thụ động xảy ra ở trứng cá và cá con, có khả năng vận chuyển cá đi một
khoảng rất xa. Ngay những cá lớn, trong đoạn đường di cư chủ động của nó, có
những lúc nó cũng di cư thụ động. Ví dụ: Cá tra bột theo dòng chảy trên sông
Mekong từ Cambodia về Việt Nam.
Các kích thích của di cư có thể là do những biến đổi trong bản thân cá như tình
trạng phát triển của tuyến sinh dục (do lượng kích thích tố từ tuyến sinh dục tiết
ra) hay do kích thích từ môi trường: thay đổi lượng thức ăn…. Ngoài ra di cư có
tính di truyền.

Cơ chế của sự di cư

• Con đường di cư của cá tôm chưa được nghiên cứu nhiều.


• Một số loài cá di cư theo chiều chảy của dòng nước (xuôi , ngược dòng).
• Một số loài khác định hướng theo đường bờ, chất đáy.
• Một số định hướng theo sự thay đổi của nhiệt độ ở những vực nước khác
nhau. Phần lớn cá ở đại dương định hướng theo mặt trời và từ trường
của trái đất.
• Một số cá di cư thẳng đứng theo cường độ ánh sáng.

Khi di cư cá thường đi thành đàn. Đàn không có con đầu đàn cố định. Hình
dạng của đàn cá khi di cư bảo đảm cho sự vận động thuận lợi nhất và giúp cho
cá định hướng dễ dàng hơn.

Các loại di cư và ý nghĩa thích nghi

1. Di cư sinh sản
Di cư sinh sản là sự thích nghi đảm bảo những điều kiện thuận lợi nhất cho sự
phát triển của trứng và cá con, nhất là bảo vệ cho đàn cá con không bị bắt làm
mồi ăn của động vật khác.
Cá di cư sinh sản đến bãi đẻ từ nơi kiếm ăn hoặc từ chỗ trú đông.
* Di cư từ biển vào sông (Di cư ngược dòng): Mỗi năm cá đi đẻ một lần, thời
điểm di cư khác nhau đối với các loài khác nhau. Ví dụ : Cá Hồi trắng
(Coregonus) bắt đầu đi đẻ vào mùa thu. Đa số cá thuộc họ Cyprinidae di cư đi
đẻ vào mùa xuân. Một số cá khác đến nơi trú đông và ở tại đây một năm, đến
năm sau sẽ đến bãi đẻ. Ngay trong một loài cũng có những khác nhau trong di
cứnginh sản.
* Di cư từ sông ra biển (Di cư xuôi dòng).
Ít khi thấy hơn di cư ngược dòng. Ví dụ : Cá Chình (Anguilla anguilla), trưởng
thành sinh dục vào thời điểm 9 -12 tuổi. Sau đó nó xuôi dòng từ sông ra biển để
đẻ và thường đi vào ban đêm. Lúc đầu nó sống ở các sông châu Âu, sau đó
xuôi dòng ra biển. Từ đó cá đến vùng bờ biển Mỹ châu là bãi đẻ của nó. Trên
đoạn đường di cư, cơ thể có thay đổi:

• Măt lớn thêm ra gấp 4 lần so với khi nó còn ở sông.


• Mõm nhọn hơn.
• Lưng trở nên có màu sậm hơn, bụng biến đổi từ màu vàng sang màu bạc.
• Ốm đi rất nhiều.
• Ruột thoái hoá.
• Áp suất thẩm thấu của máu tăng.
• Bong bóng khí nhỏ đi.

2. Di cư dinh dưỡng
* Di cư thụ động để kiếm ăn: Xảy ra ở ấu trùng và trứng.
* Di cư chủ động:

• Cá nước ngọt: Nhiều loài cá ban ngày sống ở sông, ban đêm ra các đầm,
hồ, nơi có nhiều động vật không xương sống để kiếm ăn. Ở vùng châu
thổ sông Mékong, vào mùa nước lũ, cá lên ruộng trũng để kiếm ăn, đến
kỳ nước rút, cá theo dòng chảy xuống sông, kênh.
• Cá biển: Nhiều loài cá sau khi đẻ bị kiệt sức, phải chủ động kiếm ăn. Đối
với một số cá ăn mồi thì chúng di chuyển theo các đối tượng thức ăn. Cá
biển cũng co sdi cư thẳng đứng để chủ động kiếm ăn.

3. Di cư trú đông
Di cư trú đông là một giai đoạn trong vòng đời của một số cá. Ở giai đoạn nầy
cá ít hoạt động, ăn ít hoặc ngừng ăn, cường độ trao đổi chất giảm. Năng lượng
dùng cho duy trì được lấy từ lượng mỡ tích luỹ trước khi di cư trú đông.

Phương pháp nghiên cứu

1. Nghiên cứu sức sinh sản


* Nghiên cứu sức sinh sản tuyệt đối của cá thể
Trước khi xác định sức sinh sản ta tíen hành : cân cá, đo chiều dài chuẩn, xác
định tuổi cá.

• Phương pháp thể tích:

Đo thể tích của cả buồng trứng bằng cách bỏ nó vào ống đong chứa nước. Gọi
thể tích nầy là V. Cắt 1 khúc của buồng trứng, kích thước của đoạn tuỳ theo
kích thước của buồng trứng lớn hay nhỏ. Dùng giấy chậm cho khô nước rồi đo
thể tích của khúc nầy gọi là v. Tách rời những hạt trứng trong khúc nầy và đếm
bằng bảng đen có kẻ ô. Cứ trãi đều trứng trên bảng, mỗi ô một trứng, khi đầy
các ô, ta có 100 trứng. Gọi số trứng trong mẫu là n. Gọi N là số trứng trong toàn
buồng trứng thì

• Phương pháp trọng lượng

Cân toàn buồng trứng, ghi nhận P, cân một mẫu trứng p, đếm số trứng trong
mẫu n. Gọi toàn bộ số trứng N, ta có:
• Phương pháp đếm thực sự

Thường áp dụng một số phương pháp để tìm trị số trung bình.

2. Nghiên cứu di cư
* Phân tích các mẻ lưới: Cần nghiên cứu các biến đổi về sự phong phú của loài
theo thời gian và khu vực. Nếu phân tích được về cơ cấu nhóm tuổi và độ phát
triển tuyến sinh dục, có thể tìm ra lý do sự di cư.
* Đánh dấu và theo dõi

• Dấu (Mark) : Cắt một phần của vi hay đục lỗ ở nắp mang, hoặc khắc vào
đỉnh đầu, nhuộm cơ.
• Thẻ (Tag)
o Thẻ Petersen: gồm hai đĩa nhỏ nối nhau bởi một cây ghim qua cơ
thể cá.
o Sợi dây: Ghim qua cơ thể cá buộc lại.
o Thẻ bên trong: tấm kim khí nhỏ có từ tính, bỏ vào xoang bụng của
cá, khi cần phát hiện dùng máy dò.
o Thẻ mũi tên: Đối với cá lớn không đánh bắt được, dùng súng bắn
thẻ nầy ghim vào cơ thể cá.
• Máy dò cá: Phát hiện được sự tập trung và di chuyển của cá.

Chương 7: Nguồn Lợi Và Khai Thác Nguồn Lợi Thuỷ


Sản
Hiện trạng nguồn lợi và tài nguyên thủy sản

Nhận thức cơ bản về nguồn lợi và tài nguyên thuỷ sản

Nguồn lợi thuỷ sản được quan niệm một cách khái quát là sự đa dạng về sinh
học trong thuỷ vực. Sự đa dạng sinh học nầy duy trì các hệ sinh thái ở nước
cũng như phát triển nghề nuôi trồng và khai thác thuỷ sản. Nguồn lợi thuỷ sản
theo nghiã hẹp là các thuỷ sinh vật có khả năng sinh sản tạo ra các thế hệ sau
để duy trì quần đàn. Các thế hệ già cỗi không thể tránh khỏi chết tự nhiên. Vì
vậy việc khai thác hợp lý các quần đàn trưởng thành, ngoài ý nghĩa về kinh tế,
còn là giải pháp tạo điều kiện cư trú cho thuỷ sinh vật phát triển. Quần đàn có
khả năng tự khôi phục nhưng nếu môi trường nước bị ô nhiễm hay bị khai thác
qua mức một số loài cá và động vật ở nước đã và đang đứng trước nguy cơ bị
tiêu diệt. Ví dụ chỉ trong vòng 50 năm trở lại đây, một số loài cá như cá chình
Nhật (Anguilla japonica), cá trắm cỏ sông Hồng (Ctenopharyngodon idella), cá
mơn sông La Ngà (Scleropages formossanus), cá chìa vôi sông Nhà Bè
(Crinidens sarissophorus), cá trê trắng (Clarias batrachus), cá diếc (Carrsius
crrsius), cà cuống (Lethocerus indicus), cá sấu nước lợ (Crocodylus porosus),
và con Nược sống ở nước (Orcella brevirostris) tại đồng bằng sông Cửu Long.
Tài nguyên thuỷ sản gồm môi trường sống đất, nước, các yếu tố vô sinh và các
chuổi thức ăn tự nhiên làm cơ sở nuôi dưỡng sản phẩm cuối cùng cho người
khai thác. Sự phân bố khác nhau của thuỷ sinh vật cũng tuỳ thuộc vào sự khác
biệt của môi trường sống: môi trường nước ngọt, lợ, mặn, cơ sở thức ăn tự
nhiên và yếu tố địa lý. Đặc điểm về môi trường sống, cơ sở thức ăn tự nhiên và
giới hạn về địa lý là các yếu tố chính quyết định tính đặc thù về nguồn gen thuỷ
sản của một vùng hay khu vực nào đó mà nơi khác không có được.. Từ đó nẩy
sinh các yêu cầu về trao đổi qua sự di nhập, thuần hoá các loài thuỷ sản làm
phong phú thêm nguồn lợi.

Đặc điểm nguồn lợi thuỷ sản vùng đồng bằng sông Cửu Long

Vùng đồng bằng sông Cửu Long có thể chia thành ba vùng sinh thái khác nhau.
Ba vùng sinh thái nầy là ba khu hệ cá khác nhau.
- Vùng sinh thái sông và ven sông
Hạ lưu sông Cửu Long thuộc vùng ven giữa sông Tiền và sông Hậu. Vùng nầy
cũng là vùng ngập lũ ven sông hay vùng đất phù sa ngọt. Đây là vùng có diện
tích chiếm tỷ lệ cao nhất (29,18% trên 1,2 triệu ha) của đồng bằng sông Cửu
Long. Dòng chính hạ lưu sông Cửu Long tại Việt Nam dài 225km (diện tích lưu
vực 75.000km2 chiếm 5% lưu vực chung) và chảy trên nền đáy bằng phẳng
được tạo bởi phù sa có lớp bùn cát lỏng, nên lòng sông dễ bị xoáy lở. Chính vì
địa hình bằng phẳng, độ dốc thấp (chỉ 1cm/km), sông phân nhiều nhánh nên sự
xâm nhập nước mặn vào nội địa trong mùa khô thường xảy ra.
Thành phần loài cá, tôm ở đây rất đa dạng và phong phú. Hiện nay đã xác định
được 277 loài cá. Trong đó các loài cá có giá trị kinh tế chiếm 57 loài với tỷ lệ
21,92% . Ở đây ngư dân đã đánh bắt được một số loài cá nước ngọt có trọng
lượng cực lớn như cá hô (58kg), cá tra dầu (110kg). Riêng tôm nước ngọt đã
tìm thấy được 8 loài và 23 loài tôm biển sống ở các vùng nước lợ cửa sông ven
biển. Trong đó tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii), tôm he (Penaeus
indicus, P. merguiensis)), tôm sú ( P. monodon)… là những loài có giá trị xuất
khẩu cao.
Đàn cá kinh tế ở đây được chia thành hai nhóm chính

• Nhóm cá nuôi có nguồn gốc từ sông (gọi là cá bản địa) như cá chài, mè
vinh, he, ba sa, tra, hú, bống tượng, lóc bông… và một số cá nhập nội
như cá chép, mè trắng, mè hoa, trắm cỏ, rô phi, tai tượng …
• Nhóm cá tự nhiên sống trong sông (cá trắng) bao gồm các loài cá có kích
thước lớn và có giá trị kinh tế cao như cá hô, cóc, bông lau, duồng … Bên
cạnh đó có loài cá kích thước thân thể nhỏ nhưng quần đàn lớn và có giá
trị kinh tế như cá linh, thiểu, cơm…

Di cư của cá ở hạ lưu sông Cửu Long theo các dạng sau

• Di cư sinh sản : Gồm có hai nhóm, nhóm di cư ngược dòng để đẻ ở các


vùng trung và thượng lưu sông Mékông như cá tra, duồng, ba sa, hô, tra
dầu, hú…. Nhóm di cư từ sông vào vùng trũng ngập nước vào mùa mưa
để đẻ như cá lăng, leo, mè lúi, he …
• Di cư vỗ béo : Vào đầu mùa lũ, cá từ sông di cư vào các vùng đồng ruộng
trũng ngập nước để kiếm ăn. Đến cuối mùa lũ , nước rút, cá lại theo dòng
nước di cư ra sông để tìm mồi. Ngoài ra, còn có một số loài cá nước mặn,
lợ di cư vào sông để tìm mồi trong mùa khô.
• Di cư thụ động : Dạng di cư nầy thường gặp ở cá bột của một số loài cá
như cá tra, ba sa, vồ đém, hú, bông lau … Những loài cá nầy đẻ ở vùng
trung và thượng lưu sông Mékông. Vào đầu mùa lũ, cá bột trôi theo dòng
nước chảy về phía hạ lưu sông và các vùng ngập nước ven sông.

- Vùng sinh thái trũng phèn


Vùng Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên nhận nước từ hai nguồn chính là
nước từ sông Cửu Long chảy qua hệ thống kênh rạch và nguồn nước mưa tại
chỗ. Vào mùa lũ ( từ tháng 8 -11), Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên là
vùng sinh trưởng, đẻ trứng của nhiều loài cá di cư từ sông vào. Khi nước rút,
hầu hết các loài cá nầy lần lượt di cư ra sông, chỉ có các loài cá đen chịu được
khô hạn và phèn, còn lưu lại trong các đìa, bàu láng trũng nước cạn và bị nhiễm
phèn ở các mức độ khác nhau. Đây là những vùng lưu giữ nguồn gen của tập
đoàn cá đen nổi tiếng như cá lóc, rô, trê, sặc, lươn, trạch … và nhóm cá kích
thước nhỏ điển hình là cá trâm - sinh vật chỉ thị cho thuỷ vực phèn nặng, có thể
chịu được môi trường nước pH từ 2 -3.
- Vùng sinh thái cửa sông ven biển
Các cửa sông ven biển vùng đồng bằng sông Cửu Long thuộc hệ thống sông
Mékông và một số cửa sông khác có nguồn gốc tại chỗ. Phần lớn các cửa sông
chảy ra biển Đông và chịu ảnh hưởng thuỷ triều biển Đông. Một số cửa sông đổ
ra khu vực biển Tây và chịu ảnh hưởng thuỷ triều biển Tây. Một số cừa sông
thuộc khu vực mũi Cà Mau thuộc vùng chuyển giữa biển Đông và biển Tây.
Các cửa sông chịu ảnh hưởng thuỷ triều biển Đông thuộc hệ thống sông Cửu
Long có lưu lượng nước đổ ra biển hằng năm rất lớn, tạo nên một khu vực cửa
sông rộng lớn có sự hoà trộn nước sông và nước biển. Nơi đây sự biến động về
môi trường và độ mặn xảy ra rất lớn về mùa khô và mùa mưa.
• Cửa sông Mỹ Thanh không thuộc hệ thống sông Cửu Long nhưng do vị trí
gần cửa sông Trần Đề và Bassac của hệ thống sông Cửu Long nên chịu
ảnh hưởng về môi trường và chế độ nước giống như các cửa sông thuộc
hệ thống sông Cửu Long.
• Cửa sông Gành Hào không thuộc hệ thống sông Cửu Long và ở xa vị trí
các cửa sông thuộc hệ thống sông Cửu Long nên chế độ nước và môi
trường không giống như các các sông thuộc hệ thống đó.

Cửa sông Cái Lớn chịu ảnh hưởng thuỷ triều biển Tây.
Các cửa sông Ông Đốc, Bảy Hạp chịu ảnh hưởng của cả hai vùng biển Đông và
biển Tây.
Do đặc điểm sinh thái vùng cửa sông cùng với mối quan hệ về độ mặn và đặc
điểm sinh học của tôm cá, nên sự phân bố của chúng trong khu vực có thể chia
tành bốn nhóm sinh thái cá.
Nhóm I - Nhóm cá biển
Nhóm cá nầy đời sống phần lớn ở vùng nước có độ mặn cao. Chúng có quan
hệ với vùng cửa sông thông qua chuổi thức ăn và mùn bã hữu cơ từ cửa sông
đưa ra biển. Đây là các loài thích nghi rộng muối và hẹp muối. Có thể gặp cá
thích nghi với độ muối thấp 5%o , nhưng đa số gặp cá thích nghi với nồng độ
muối từ 18 - 25%o . Nhóm cá nầy gồm các loài cá sống khơi, điển hình như các
họ Trigonidae, Scombridae, Clupeidae, Engraulidae… Nhóm cá biển thường
gặp ở phần cuối các cửa sông, nơi nước có nồng độ muối cao và ít biến động,
nhất là vào mùa khô khi lượng nước sông giảm.
Nhóm II - Nhóm cá nước lợ cửa sông
Nhóm cá nầy sống chủ yếu ở vùng nước lợ cửa sông, có nồng độ muối biến
động từ 0,4 - 25%o, thích nghi với sự biến động mạnh của các yếu tố môi
trường và ít di cư. Thức ăn của chúng là mùn bã hữu cơ và thực vật. Cá nước
lợ cửa sông thuộc nhiều nhóm khác nhau thuộc họ Clupeidae, Engraulidae,
Harpadonthidae, Bregmacerotidae, Belonidae, Ariidae, Polynemidae,
Apogonidae, Carangidae, Sciaenidae, Lutjanidae, Sparridae… Phần lớn các loài
cá nầy có kích thước nhỏ, sống đáy. Nhiều loài sống ổn định trong vùng, nhưng
cũng có nhiều loài di cư giữa sông và biển. Một số loài ở vùng cửa sông là nơi
bắt buộc trong một giai đoạn của chu trình sống, khi sinh sản phải di cư đến
vùng sinh thái khác. Nhóm các nước lợ cửa sông và nhóm cá biển di nhập vào
là cơ cấu chủ yếu của nghề khai thác cá cửa sông và vùng nước nông ven biển.
Nhóm III - Nhóm cá di cư giữa nước mặn và nước lợ theo mùa
Đây là nhóm cá có nguồn gốc từ biển thường di cư vào vùng nước lợ dể sinh
sản và kiếm ăn theo các mùa trong năm. Có một số loài di cư qua vùng nước lợ
cửa sông, đến vùng nước ngọt trong sông theo mùa. Các loài cá thường gặp
thuộc họ Clupeidae, Engraulidae, Plotosidae, Leiognathidae, Polynemidae,
Sciaenidae, Cynoglossidae, Soleidae, Ariidae…
Nhóm IV - Nhóm cá nước ngọt
Gồm các loài cá phần lớn đời sống ở vùng nước ngọt, nồng độ muối dưới 4%o.
Một số loài có thể xuống vùng cửa sông, nước có nồng độ muối 10%o để kiếm
ăn. Chúng thường được gặp ở cửa sông vào mùa nước lũ và nước ròng. Nhóm
nầy có những loài thuộc họ Anabantidae, Bagridae, Pangasidae …

Đánh giá nguồn lợi thủy sản

Mục tiêu của việc đánh giá trữ lượng cá

Khái niệm:

• Trữ lượng là một nhóm động vật cùng một nòi hoặc loài có cùng quỹ gen
chung và có cùng một gới hạn phân bố địa lý nhất điịnh.

Mục tiêu của việc đánh giá trữ lượng:

• Đưa ra cơ sở khai thác tối ưu nguồn lợi thuỷ sản: mức khai thác cho phép
để đảm bảo năng suất tối đa về trọng lượng một cách bền vững.
• Dự báo sự biến đổi trong tương lai về năng suất, sản lượng, giá trị đánh
bắt trong các mức độ khai thác khác nhau.

Phương pháp khảo sát đánh giá nguồn lợi thuỷ sản

Đây là phương pháp khảo sát, đánh giá nguồn lợi thuỷ sản ven biển và nội
đồng. Trên cơ sở các bước khảo sát, ta tập hợp nguồn số liệu đã thu thập để
phân tích, xử lý và đánh giá nguồn lợi trong vùng nghiên cứu.
1. Số liệu khảo sát tại hiện trường
Khảo sát cụ thể trên tất cả các loại ngư cụ đang khai thác trong vùng nghiên
cứu và đặc điểm như :

• Ngư trường khai thác


• Loại ngư cụ (mô tả)
• Tên ngư cụ
• Thời gian khai thác
• Thành phần loài khai thác
• Sản lượng khai thác

2. Số liệu thu thập từ ngư dân


Chọn ngư dân tiêu biểu cho từng loại ngư cụ đặc trưng trong vùng nghiên cứu.
Qua phiếu điều tra ta sẽ thu thập những số liệu sau:

• Tên ngư cụ
• Ngày khai thác
• Thời gian khai thác
• Thành phần loài khai thác chính
• Sản lượng khai thác: kg/ ngày, kg/ tháng, kg/mùa, tấn/năm
• Phân loại sản lượng khai thác/ một mẻ khai thác.

3. Số liệu thống kê từ cơ quan quản lý thuỷ sản tại địa phương


Qua phiếu điều tra đã thiết kế sẳn, gửi đến cơ quan quản lý ngành thuỷ sản địa
phương, những số liệu cần thiết được cung cấp:

• Tổng số dân cư trong vùng nghiên cứu


• Bao nhiêu người dân trong vùng có liên quan đến nghề khai thác thuỷ sản
o Bán chuyên nghiệp
o Chuyên nghiệp
• Thống kê chi tiết các ngư cụ trong vùng nghiên cứu
• Thống kê chi tiết ngư dân sử dụng từng loại ngư cụ cụ thể
• Thời gian khai thác của từng loại ngư cụ
• Mùa vụ khai thác cuả từng loại ngư cụ

4. Xử lý và đánh giá nguồn lợi trong vùng nghiên cứu


Với ba nguồn số liệu đã thu thập trên, chúng ta thiết kế phần mềm Exel đơn
giản để xử lý. Từ ba góc độ nhìn khác nhau, chúng ta có thể đánh giá một cách
tương đối về nguồn lợi thuỷ sản trong vùng nghiên cứu.

Những nét tổng quát về đánh giá trữ lượng đàn cá


Số liệu thu thập càng nhiều thì mức độ chính xác của việc đánh giá trữ lượng
đàn cá càng cao. Khả năng nầy tương quan với sự phát triển nghề cá. Trong
trường hợp đàn cá chưa bị khai thác, cách đánh giá phải dựa trên cơ sở sinh
thái chung hoặc các chuyến khảo sát nghiên cứu nghề cá. Ngay khi khai thác
bắt đầu, chính nghề cá có thể cung cấp cơ sở số liệu để có thể đánh giá phức
tạp hơn. Ở một nghề cá phát triển cao, phần lớn thuộc về đàn cá đã bị khai
thác. Như thế sẽ dễ dàng cho việc thu mẫu hoặc thu thập số liệu. Phương pháp
luận đánh giá và dự báo đàn cá thay đổi tương ứng với số liệu thu được tăng
lên. Trong khi những đánh giá sơ bộ có thể chỉ dựa vào mối quan hệ giữa năng
suất sơ cấp và thứ cấp hoặc so sánh vùng chưa được khai thác và vùng đã
được khai thác có cùng đặc điểm chung về môi trường.
Những đánh giá về trữ lượng đàn cá sống đáy hoặc sống nổi chưa bị khai thác
có thể thực hiện bằng phương pháp đơn giản là dùng lưới kéo.

Các vấn đề chung về đánh giá trữ lượng


Có hai loại số liệu chính theo thứ tự ưu tiên:
1. Số liệu thu từ nghề cá thương phẩm

• Tổng sản lượng (theo loài, khu vực và ngư cụ khai thác).
• Cường lực khai thác (theo khu vực và ngư cụ).
• Tần số chiều dài (theo loài và giới tính).
• Số liệu sinh học (độ chín sinh dục, mối quan hệ chiều dài và trọng lượng).
• Số liệu về ngư cụ khai thác (kích thước mắt lưới và các ngư cụ khai thác).

2. Số liệu từ khảo sát nghiên cứu

• Sản lượng và cường lực (ví dụ: số lượng khai thác trong một giờ, theo
từng loài).
• Sản lượng trên một đơn vị diện tích (để tính theo phương pháp diện tích
lưới quét qua).
• Tần số chiều dài (theo loài và giới tính).
• Số liệu sinh học (độ chín sinh dục, mối quan hệ chiều dài - trọng lượng).
• Số liệu về ngư cụ khai thác (ví dụ kích thước mắt lưới).

Phương pháp đánh giá

Có rất nhiều phương pháp đánh giá trữ lượng đàn cá từ đơn giản đến phức tạp,
từ cổ điển đến hiện đại. Việc đánh phụ thuộc vào nguồn số liệu chúng ta có thể
thu thập được từ nghiên cứu, từ thống kê nghề cá ở những vùng chưa được
khai thác hoặc vùng đang khai thác.

• Phương pháp đanhs giá trữ lượng đơn giản:

Khảo sát bằng lưới kéo (giã cào, lưới vây, lưới kéo)
Lưới: có kích thước mắt tương đối dày, để thu được mẫu đại diện cho toàn bộ
kích thước của loài đang nghiên cứu.
1. Các thông tin vùng khảo sát
Gồm những thông tin về độ sâu, nền đáy, chế độ gió theo mùa và các kiểu di cư
của các đàn cá.
2. Mục tiêu và kế hoạch khảo sát
Đây là một số việc quan trọng cần phải xem xét trước khi tiến hành khảo sát.

• Ước lượng tổng sinh khối và tốc độ đánh bắt.


• Ước lượng sinh khối cho loài được chọn.
• Thu thập các số liệu sinh học và môi trường.

Chọn ngư cụ khảo sát

Lưới kéo phải phù hợp với điều kiện nền đáy. Kích thước mắt lưới sử dụng
nghiên cứu thường nhỏ hơn nhiều so với kích thước mắt lưới sử dụng trong
khai thác. Vì cá nhỏ có ý nghĩa quan trọng cho các phương pháp đánh giá dựa
vào tần số chiều dài.
1. Thiết kế khảo sát
Nên quyết định một qui trình chọn lựa các trạm. Một hệ thống các trạm kiểu kẻ ô
sẽ đảm bảo cho việc thu được các thông tin tối đa về phân bố trên toàn bộ khu
vực.
2. Phân bố các mẻ lưới
Nên phân bố các mẻ lưới tương ứng với mật độ phân bố của cá, sao cho phân
tích được các vùng có mật độ cao, trung bình và thấp. Như vậy trước khi khảo
sát phải thu thập thông tin. Thiết kế khảo sát đầu tiên phải hoàn toàn ngẫu
nhiên, hoặc các mẻ lưới kéo phải được phân bố đều. Trong giai đoạn tiếp theo
của chương trình, khi đã có được một số thông tin về mật độ và độ lệch tiêu
chuẩn của cá có giá trị ước lượng mật độ thì sử dụng thông tin nầy cho phân bố
cấu trúc mẻ lưới khai thác.
3. Số lượng các mẻ lưới
Để ước tính bao nhiêu mẻ lưới có thể thực hiện được trong một khoảng thời
gian nào đó, thì cần có những thông tin sau:

• Tổng số ngày có thể có N.


• Thời gian đi và về từ bãi cá t1.
• Thời gian 1 mẻ lưới t2.
• Thời gian thả và kéo lưới t3.
• Thời gian phủ kín khoảng cách giữa các trạm t4.
• Số giờ có được trong một ngày, tập tính của loài nghiên cứu, hằng hải ..
T.
• Thời gian cho các công việc chuẩn bị (ngư cụ và trang thiết bị) t5.

Trừ ngày đầu tiên và cuối cùng của chuyến khảo sát, khi T không tính đến t1, thì
số mẻ lưới trong ngày có thể tính được từ:

• Số mẻ lưới trong ngày = T/(t2 + t3 + t4).


• Tổng số mẻ lưới = (N – t1 – t5) x số mẻ lưới trong ngày + số mẻ lưới kéo
trong ngày đầu và ngày cuối cùng x số chuyến biển.

Việc tiêu chuẩn hoá thời gian một mẻ lưới trong suốt chuyến khảo sát có ý
nghĩa quan trọng. Vì khả năng đánh bắt của loài và kích thước cá thường phụ
thuộc vào khoảng thời gian của mẻ lưới.
4. Ghi chép số liệu
Các thông tin cần ghi nhận trong chuyến khảo sát:

• Một nhật ký ghi tóm tắt toàn bộ hành trình trên biển.
• Nhật ký khai thác cá: chi tiết về từng trạm như vị trí, thời gian bắt đầu và
kết thúc từng mẻ lưới, sản lượng, thành phần trọng lượng của từng loài.
• Các thông tin chi tiết về sản lượng, chiều dài, trọng lượng, giới tính, độ
thành thục sinh dục … theo từng các thể hoặc các mẫu phân bố tần số
chiều dài.

Chương 8: Đối Tượng Nuôi, Các Hệ Thống Và Mô Hình


Canh Tác Thuỷ Sản

Đặc điểm sinh học của một số đối tượng nuôi tại Việt Nam

Môi trường nước ngọt

1. Cá
1.1. Cá Tra (Pangasius hypophthalmus)

• Phân bố: Cá tra phân bố ở Bornéo, Sumatra, Java, Thai lan, Mã lai,
Campuchia và đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam. Cá sống ở các tầng
nước, nhưng thường sống ở tầng đáy cả nơi nước tĩnh và nước chảy. Cá
có khả năng sống nơi ao tù có nhiều chất hữu cơ.
• Tính ăn: Cá tra là loài ăn tạp thiên về động vật.
• Sinh trưởng : Cá tra là loài lớn nhanh trong điều kiện nuôi bình thường cá
có thể đạt 0,8 -1 kg sau một năm nuôi và 1,5 - 2 kg sau 2 năm nuôi.
• Sinh sản : Cá tra thành thục sinh dục ở điều kiện sống ngoài tự nhiên.
Trong ao nuôi cá thành thục sinh dục ở tuổi 3 - 4 với chế độ dinh dưỡng
đầy đủ.

1.2. Cá Ba sa (Pangasius bocourti)


Cá ba sa là loài được nuôi phổ biến trong bè trên sông Tiền và sông Hậu của
hai tỉnh An giang và Đồng Tháp.

• Phân bố : Cá ba sa phân bố ở India, Myanma, Thailand, Java, Campuchia


và Đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam. Cá sống ở thuỷ vực nước chảy
và hồ lớn, chịu đựng được nồng độ oxy tương đối thấp.
• Tính ăn: Cá ba sa ăn tạp thiên về động vật.
• Sinh trưởng: Cá lớn nhanh từ năm thứ nhất đến năm thứ ba, đạt trung
bình 1 -1,2 kg sau một năm nuôi ở bè.
• Sinh sản: Cá ba sa thành thục sinh dục ở điều kiện sống ngoài tự nhiên.
Trong bè hay ao nuôi vỗ cá thành thục sinh dục ở tuổi 3 - 4 với chế độ
dinh dưỡng thích hợp.

1.3. Cá Trôi Ấn Độ (Cirrhinus mrigala, Labeo rohita, Catla catla)


Gồm ba loài được di nhập từ India vào Việt nam là cá trôi trắng Mgrigal
(Cirrhinus mrigala), cá trôi đen Rohu (Labeo rohita) và cá Catla (Catla catla).
• Phân bố: Cá Rohu phân bố ở miền Trung và Bắc Ấn độ, Bangladesh,
Nepal, Myanma. Hiện cá được di giống sang nuôi ở nhiều nước trên thế
giới. Cá phân bố rộng trong các loại hình mặt nước ngọt nơi tầng giữa và
tầng đáy.
• Khả năng thích ứng : Cá trôi Ấn độ thích ứng với nhiệt độ từ 11 - 42oC,
nồng độ muối từ 4 -5 %o.
• Tính ăn : Khi còn nhỏ cá ăn thực vật và động vật phù du. Khi trưởng
thành cá trôi đen và cá trôi trắng ăn tạp, cá catla ăn động vật phù du và
mùn bã hữu cơ lắng đọng ở đáy ao.
• Sinh trưởng: Cá trôi Ấn độ có thể nuôi ở nhiều loại hình thuỷ vực khác
nhau và tốc độ tăng trưởng ở từng thuỷ vực cũng khác nhau. Nhìn chung
cá trôi Ấn độ lớn nhanh trong hai năm đầu , sau đó tốc độ tăng trưởng
giảm dần. đặc biệt cá catla tăng trưởng nhanh nhất , sau một năm nuôi có
thể đạt 1, 5kg/con.
• Sinh sản: Ở đồng bằng sông Cửu Long, cá trôi đen và cá trôi trắng thành
thục sinh dục ở độ tuổi 15 tháng, còn catla thì thành thục ở độ tuổi 20
tháng. Khi sinh sản phải dùng các biện pháp kích thích để cá đẻ. Một năm
cá có thể đẻ từ 4 -5 lần.

1.4. Cá Chép (Cyprinus carpio Linaeus)

• Phân bố : Cá chép phân bố rộng khắp các nước trên thế giới. Cá sống
chủ yếu ở nước ngọt nhưng cũng có thể sống ở vùng nước lợ nhạt và
vùng cao 1500m so với mặt biển. cá chép có thể nuôi trong ao và ở trong
bè.
• Khả năng thích ứng : cá chép thuộc loài rộng nhiệt, chúng có thể sống
dưới lớp nước đóng băng vào mùa đông ở châu Âu và mùa hè ở vùng
nhiệt đới. Nhiệt độ thích hợp để cá phát triển tốt là 20 -28oC. Độ pH thích
hợp : 7-8 nhưng cũng sống được ở pH 5,5 - 8,5. cá có thể sống nơi nước
tĩnh có nồng độ oxy hoà tan thấp hay nơi có dòng nước chảy.
• Tính ăn: Lúc còn nhỏ cá ăn động vật phù du như Rotifera, Cladocera, sau
đó chuyển sang ăn động vật đáy. Trong nuôi thuỷ sản cá chép ăn được
thức ăn viên công nghiệp, thức ăn chế biến.
• Sinh trưởng: Cá chép nuôi ở đồng bằng sông Cửu long trong mô hình ao
hồ, năm đầu tăng trọng trung bình 0,3 - 0,5 kg/con. Năm thứ hai đạt 0,7 -
1kg/con. Năm thứ ba đạt 1 - 1,5kg/con. Nuôi trong ruộng lúa kết hợp có
thể đạt 0,5 -0,8 kg/con sau 8 - 9 tháng nuôi.
• Sinh sản: Ở Việt nam cá chép thành thục sinh dục sau 1 năm nuôi. nếu
nuôi với thức ăn đầy đủ, cá thành thục sinh dục sau 8 - 9 tháng. Cá chép
có thể đẻ tự nhiên trong môi trường ao nuôi. Cá đẻ nhều lần trong năm,
tập trung vào đầu và giữa mùa mưa với nhiệt độ từ 25 -29oC. Trong sinh
sản nhân tạo cá chép đẻ quanh năm.

1.5. Cá Lóc (Ophicephalus strriatus)


• Phân bố: Giống cá lóc có khoảng 30 loài trên thế giới. Phân bố ở Việt nam
và một số nước vùng Đông Nam Á có 5 loài: Ophiocephalus striatus (cá
lóc, cá sộp), O.maculatus (cá chuối: miềm Bắc Việt Nam), O.micropeltes
(cá lóc bông), O.marulius , O.punstatus. cá lóc có thể sống ở ao, hồ,
kênh, rạch, mương vườn, đìa, lung, bàu.
• Khả năng thích ứng: Cá lóc hoạt động bắt mồi vào lúc sáng sớm và chiều
tối khi nhiệt độ nước trên 25oC. Nhiệt độ thích hợp cho cá phát triển 20 -
35oC. Cá có thể sống lâu trên cạn với điều kiện da luôn ẩm ướt, vì cá có
khả năng hô hấp khí trời.
• Dinh dưỡng: Khi mới nở cá sống nhờ noãn hoàng, tập trung thành đàn
với mật độ cao ở tầng mặt (cá đóng khói đèn). Sau 5 - 6 ngày cá sử dụng
thức ăn bên ngoài như sinh vật phù du cỡ nhỏ như luân trùng (Rotifera),
trứng nước (Moina). Cá lóc mẹ có tập tính bảo vệ trứng và con. Khi chiều
dài thân cá được 2 - 3cm, (30 - 45 ngày tuổi) chúng có thể bơi phân tán
để tìm mồi. Khi chiều dài thân cá khoảng 5 - 6cm cá con có thể tự tìm mồi.
Thức ăn của chúng là các loại tép và cá nhỏ khác. Khả năng bắt mồi của
chúng tuỳ thuộc vào mật độ và kích thước con mồi. Khi cá có chiều dài
thân trên 10cm, cá hoàn toàn chủ động bắt mồi và sống độc lập cho đến
trưởng thành.
• Sinh trưởng: Trong điều kiện nuôi, cá lóc tăng trọng trung bình từ 0,4 -
0,8kg/con/năm.

Cá thường sống nơi nước tĩnh hoặc nơi có dòng nước chảy yếu, mực nước sâu
trung bình từ 0,5 - 1m, nơi có nhiều thực vật thuỷ sinh để rình và bắt mồi.
Cá lóc sống được những vùng nước ngọt, nhưng cũng sống được ở vùng nước
lợ nhạt với nồng độ muối 5%o. Cá cũng có thể sống ở những vùng nước nhiễm
phèn nhẹ với pH: 5,5. Nhưng cá phát triển tốt ở vùng nước pH: 6,5 - 7,5 như đa
số cá loài cá khác làm thức ăn cho chúng.

• Sinh sản: Cá lóc thành thục sinh dục từ 8 -12 tháng tuổi. Cá có thể đẻ
trứng quanh năm, nhưng tập trung nhất vào đầu mùa mưa khoảng tháng
6 -7dl và thường đẻ rộ sau những cơn mưa lớn. Sức sinh sản bình quân
từ 15.000 - 20.000 trứng/tổ ở cá có trọng lượng 1 -1,5kg/con và 5.000 -
10.000 trứng/tổ ở cá có trọng lượng 0,4 -0,8kg/con. Khi cá thành thục
thường tự ghép đôi và tìm nơi yên tĩnh, thích hợp để làm tổ như các buội
cỏ nước ven bờ, gốc rạ … Những cây cỏ thuỷ sinh giữ trứng không cho
trôi nổi khi mưa gió. Trứng cá lóc là loại trứng nổi có màu vàng rơm hoặc
vàng trong. Cá cái và đực luôn canh giữ tổ và tấn công bất cứ sinh vật
xâm phạm tổ trong khu vực có bán kính khoảng 1 -1,5m.

1.6. Cá Lóc bông (Ophicephalus micropeltes)


• Phân bố : Cá lóc bông phân bố ở khu vực Nam và Đông Nam Á trong các
loại hình thuỷ vực nước ngọt như sông, kênh, rạch, đồng ruộng, lung bàu
…Cá cũng có thể sống và phát triển ở vùng nước lợ nhạt. Cá được nuôi
trong bè và trong ao đất.
• Tính ăn: Cá lóc bông là loài cá dữ, có tập tính bắt mồi. Thức ăn cho cá là
động vật tươi sống : cá, tép, ếch, nhái.
• Sinh trưởng: Cá dễ nuôi, lớn nhanh. Nuôi trong bè có thể đạt 0,7 -1kg/con
sau 6 tháng nuôi. Hoặc có thể đạt từ 1 -1,5kg/con/năm
• Sinh sản : Cá lóc bông thành thục sinh dục sau 24 -30 tháng tuổi. Cá
thành thục sinh dục và đẻ tự nhiên. Nguồn giống cá lóc bông được ngư
dân vớt nuôi vào đầu mùa lũ.

1.7. Cá Mè trắng Trung quốc (Hypophthalmychthys molitrix)

• Phân bố: Cá mè trắng Trung quốc phân bố chủ yếu ở lưu vực sông
Trường Giang, Châu Giang, Tây Giâng và Hắc Long Giang. Đây là loài cá
đặc trưng của khu hệ đồng bằng Trung quốc. năm 1964, cá mè trắng
được di nhập vào Việt nam, có thể cho sinh sản nhân tạo và nuôi phổ
biến ở miền Bắc. cá cũng được di nhập vào các nước thuộc châu Á, châu
Phi, châu Âu… Cá sống ở tầng mặt và tầng giữa, bay nhảy khỏi mặt nước
khi có động.
• Tính ăn: Sau khi nở 3 ngày, cá ăn động vật phù du vừa với kích cỡ miệng
cá. Sau 4 -5 ngày, cá ăn thêm tảo phù du. Sau đó cá ăn tảo nhiều hơn
cho đến khi trưởng thành. Cá trưởng thành ăn thực vật phù du là chính,
động vật phù du và chất hữu cơ lơ lững. Ngoài ra cá cũng có thể ăn thêm
cám mịn, bột hay sữa đậu nành.
• Khả năng thích ứng: Cá thích sống trong môi trường nước rộng, sâu,
thoáng, hàm lượng Oxy cao, nhiệt độ thích hợp: 22 - 25oC, pH: 7 - 8.
• - Sinh trưởng: Cá lớn nhanh. Ở miền Bắc cá nuôi đạt 0,5 - 0,7kg/con, sau
1 năm. Đạt 1,5 -1,8 sau 2 năm nuôi và 4,6 kg/con sau 3 năm. Ở đồng
bằng sông Cửu Long, trong những ao rộng sâu hay ruộng lúa ngập nước
sâu vào mùa lũ, cá đạt 0,8 -1kg/con sau 1 năm nuôi.
• Sinh sản: Cá thành thục sinh dục sau 2 năm. Trong điều kiện nuôi tốt, một
số cá thành thục sinh dục sau 1 năm. Cá đực thành thục sớm hơn cá cái
về thời gian trong năm và tuổi. Ở đồng bằng sông Cửu Long cá đẻ tập
trung vào mùag mưa với nhiệt độ nước 26 -29oC. Sức sinh sản 86.000
trứng/kg cá cái. Bình quân 1 con cá có thể sinh sản 4 -5 lần/mùa sinh sản.
Trứng cá thuộc loại bán trôi nổi, lơ lững trôi theo dòng nước chảy.

1.8. Cá Mè hoa (Aristichthys nobilis)

• Phân bố: Cá mè hoa ở Việt Nam được tìm thấy tại sông Kỳ Cùng (Lạng
Sơn) nhưng với số lượng không nhiều. Năm 1958, cá mè hoa được nhập
từ Trung quốc, sau đó cho đẻ nhân tạo thành công và được nuôi rộng rãi
nhiều nơi. Đây cũng là loài cá điển hình của khu hệ cá đồng bằng Trung
quốc. Lúc đầu chúng phân bố ở sông Ngọc Giang, Trường Giang sau đó
là Hắc Long Giang.
• Khả năng thích ứng: Cá sống ở tầng trên và tầng giữa, trong môi trường
nước rộng, thoáng, độ sâu thấp hơn cá mè trắng. Cá mè hoa không nhảy
hay vùng vẫy nhiều, chúng thường bơi thành đàn, hoạt động chậm chạp
dễ đánh bắt. Cá ưa sông trong nước có hàm lượng Oxy cao trên 2 -3mg/l,
nhưng chịu đựng hàm lượng Oxy thấp tốt hơn cá mè trắng. Nhiệt độ thích
hợp: 30 - 31oC.
• Tính ăn: Cá mè hoa khi còn nhỏ ăn động vật phù du. Lúc trưởng thành
cũng ăn động vật phù du là chính. Ngoài ra còn ăn thực vật phù du cám
mịn, bã đậu, bột mì …
• Sinh trưởng: Cá mè hoa thường lớn nhanh hơn cá mè trắng. Tăng trưởng
cực đại về chiều dài từ năm thứ nhất đến năm thứ ba, sau đó giảm nhanh
vào năm thứ tư. Về trọng lượng, cá lớn tương đối nhanh từ năm thứ hai
đến năm thứ bảy, nhưng tăng nhanh nhất vào năm thứ ba. Trong ao nuôi
với mật độ thưa, cá lớn nhanh sau 1 năm nuôi cá đạt 1 -1, 5kg/con. Cá
biệt có con nặng 2 -2,5kg/con. Cá nuôi 2-3 năm có thể đạt 4-6 kg/con.
• Sinh sản: Ở Việt nam cá đực thành thục sinh dục sau 2 năm tuổi, cá dài
53cm, nặng 2,5kg/con. Cá cái thành thục sinh dục sau 3 năm tuổi, dài
60cm, nặng 3,5kg/con. Nếu nuôi tốt có thể cho cá sinh sản khi thành thục
sinh dục ở 2 tuôi. Thậm chí có thể cho cá sinh sản ở 1 tuổi. Sức sinh sản
20.000 -25.000 cá bột/kg cá cái. Cá mè hoa sinh sản tập trung từ tháng 3
-6 và chỉ đẻ 1-2 lần trong một năm. Điều kiện cho cá sinh sản pH: 7-8,
nhiệt độ thích hợp nhất: 24 -28oC, hàm lượng Oxy hoà tan 5-8mg/l, lưu
tốc nước 0,8 -1,2 m/giây.

1.9. Cá Mè Vinh (Puntius gonionotus)

• Phân bố: Cá mè được tìm thấy ở Indonesia, Lào, Thai lan, Campuchia,
đồng bằng sông Cửu Long Việt nam. Cá sống rộng rãi trong các loại hình
thuỷ vực nước ngọt nhưng cũng phát triển bình thường ở thuỷ vực nước
lợ với nồng độ muối 7%o.
• Khả năng thích ứng: Cá sống và hoạt động ở mọi tầng nước, thích sống ở
những thuỷ vực nước ấm, trong sạch có hàm lượng Oxy cao. Cá sống
được ở nhiệt độ 15 -33oC, nhưng thích hợp nhất từ 25 -30oC. Cá chịu
đựng được pH: 5,5 -9, nhưng pH thích hợp nhất cho cá là 7- 8.
• Tính ăn: Cá mè vinh có chiều dài thân nhỏ hơn 10cm ăn mùn bã hữu cơ,
thực vật thượng đẳng, tảo khuê, tảo lam, tảo lục, tảo mắt…
• Cá mè vinh có chiều dài thân lớn hơn 10cm ăn nhiều thực vật thượng
đẳng, vật chất hữu cơ, tảo khuê, tảo lam, tảo lục…Loài cá nầy có thể
dùng để diệt cỏ ở ao hồ
• Sinh trưởng: Cá mè vinh sinh trưởng nhanh vào năm thứ nhất, đến năm
thứ haởntở đi tốc độ sinh trưởng chậm hơn. Cá nuôi trong ao đạt trọng
lượng 150 -250gr/con/năm. Nuôi trong ruộng lúa đạt trọng lượng
500gr/con sau 6 -8 tháng nuôi.
• Sinh sản: Mùa vụ sinh sản của cá mè vinh ngoài tự nhiên kéo dài từ tháng
5 -9. Trong sinh sản nhân tạo, cá đẻ quanh năm, tập trung nhất vào các
tháng đầu và giữa mùa mưa. một con cá có thể đẻ 4-5 lần/năm. Khoảng
cách giữa 2 lần đẻ là 30 - 45 ngày. Sức sinh sản 200.000 - 300.000
trứng/1kg cá cái. Trưng bán trôi nổi . Ở điều kiện nhiệt độ 27 -29oC phôi
phát triển trong vòng 12 giờ, thời gian nở hết lứa trứng kéo dài 5 - 6 giờ.

1.10. Cá Rô phi (Tilapia)

• Phân bố: Cá rô phi là loài đặc trưng của vùng nhiệt đới. Chúng phân bố tự
nhiên ở các thuỷ vực của nhiều nước châu Phi. Hiện nay chúng cũng
được nuôi ở nhiều nước Đông nam Á và khắp thế giới. Việt Nam có 3
loài:
o Rô phi trắng (rô phi cỏ Oreochromis mosambicus Peter) nhập vào
Việt Nam năm 1958 từ Thái Lan.
o Rô phi vằn (rô phi Đài Loan O. niloticus Linaeus), nhập vào Việt
Nam từ năm 1974 từ Đài Loan.
o Rô phi đỏ (Red Tilapia) nhập vào Việt Nam năm 1985 từ Thái Lan.
Cả 3 loài rất thích hợp với điều kiện môi trường sống ở Việt Nam
và hiện là đối tượng nuôi quan trọng của nhiều loại hình thuỷ vực
nội địa và ven biển.
• Khả năng thích ứng: Cá rô phi có thể sống được ở môi trường nước thiếu
oxy với hàm lượng chất hữu cơ cao. Nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển
của cá rô phi từ 20 -32oC. Thích hợp nhất là 25oC. Độ pH thích hợp cho
cá là 6,5 - 8,5. Cá sống được ở các môi trường nước ngọt, lợ, mặn. Rô
phi cũng có thể sống được ở độ mặn tới 40%o. Tuy nhiên ở những môi
trường nước lợ, mặn cvá chậm lớn hơn.
• Dinh dưỡng: Từ khi mới nở đến lúc chiều dài thân 17 -18mm, cá ăn sinh
vật phù du. Sau 20 ngày tuổi cá chuyển dần sang ăn nhiều loại thức ăn
khác nhau. Khi trưởng thành cá ăn tạp. Thức ăn gồm: mùn bã hữu cơ, tảo
lắng ở đáy, ấu trùng côn trùng, giun, giun, một phần thực vật thượng đẳng
mềm, sinh vật phù du, thức ăn nhân tạo, phân gia súc gia cầm…
• Sinh trưởng: Tốc độ sinh trưởng thay đổi tuỳ theo điều kiện nuôi và thức
ăn. Cá rô phi vằn lớn nhanh bvà kích thước thân thể lớn hơn rô phi cỏ. Cá
rô phi cỏ lớn nhanh từ tháng đầu đến tháng thứ 3 - 4, còn cá rô phi vằn
lớn nhanh từ tháng đầu đến tháng thứ 5 -6. Trong điều kiện nuôi ở đồng
bằng sông Cửu Long cá rô phi vằn sau 1 năm nuôi có thể đạt trọng lượng
200 - 500 gr/con. Cá đực thường lớn nhanh hơn cá cái, nhất lá sau khi
thành thục sinh dục. Do đó cá đực được dùng để nuôi tăng sản.
• Sinh sản: Cá rô phi thành thục sinh dục rất sớm. Cá rô phi trắng thành
thục sinh dục lần đầu sau 3 - 4 tháng tuổi. Cá rô phi vằn sinh sản sau 5-6
tháng tuổi. Ở đồng bằng sông Cửu Long cá rô phi đẻ quanh năm. Số lần
đẻ của cá từ 6 -11 lần/năm và khoảng cách giữa hai đẻ từ 22 - 24 ngày.
Sức sinh sản của cá mỗi lần khoảng 200 -300 trứng. Trứng cá màu vàng,
dạng quả lê. Ở nhiệt độ nước 23 -25oC, trứng nở sau 4 -5 ngày. Khi sinh
sản, cá cái và cá đực đào tổ để đẻ trứng. Tổ hình lòng chảo, rộng hơn
chiều dài thân cá, sâu 10 -15cm. Cá cái đẻ trứng vào tổ, cá đực phóng
tinh cùng một lúc. Trứng thụ tinh được cá cái nhặt vào miệng ấp. sau 3 -5
ngày trứng nở. Cá mẹ tiếp tục chăm sóc cá con trong miệng từ 9 -10
ngày, sau đó chúng rời cá mẹ để sống độc lập.

1.11. Cá Sặc rằn (Trichogester pectoralis Regan)

• Phân bố: Cá sặc rằn được tìm thấy ở các quần đảo ở Ấn Độ, Thailand,
Malaysia, lào, campuchia, Việt nam và di giống sang một số nước khác.
Cá sống ở nước ngọt và nước lợ ở cá thuỷ vực như ao, đìa, ruộng lúa,
rừng tràm…
• Khả năng thích ứng: Cá sặc rằn có cơ quan thở khí trời nên có thể sống
được ở môi trường nước thiếu hoặc không có oxy. Cá cũng có thể chịu
được môi trường nước bẩn do hàm lượng chất hữu cơ cao hay môi
trường có độ pH thấp từ 4 - 4,5. Nhiệt độ thích hợp cho cá từ 24 - 30oC,
Nhưng cũng có thể chịu được nhiệt độ từ 11-39oC.
• Dinh dưỡng: Thức ăn cho cá ặc rằn sau khi nở khoảng 3 ngày là thực vật
phù du, động vật phù du như luân trùng (Rotifera), mùn hữu cơ lơ lững
trong nước. Khi cá lớn ăn tạp thiên về thực vật.
• Sinh trưởng: Nuôi cá sặc rằn trong ruộng lúa hay trong ao có sử dụng
phân hữu cơ cá lớn nhanh. Sau một năm nuôi cá đạt trọng lượng 100 -
150 gr/con. Đây là kích cỡ được thu hoạch.
• Sinh sản: Cá sặc rằn trưởng thành có thể phân biệt được đực cái rõ ràng.
Cá thành thục sinh dục lần đầu dưới 1 năm tuổi. Mùa sinh sản của cá tại
đồng bằng sông Cửu Long tập trung vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
9. trong sinh sản nhân tạo cá đẻ từ tháng 2 đến tháng 9. Cá có sức sinh
sản cao, từ 200.000 - 300.000 trứng/kg cá cái. Trứng cá sặc rằn thuộc
loại trứng nổi. Cá đực gom trứng vào miệng rồi nhả trở lại mặt nước dưới
dạng bọt “tổ bọt”. Cá cái và cá đực bảo vệ tổ suốt quá trình phát triển phôi
và ấu trùng cá mới nở.

1.12. Cá Tai Tượng (Osphronemus gouramy)

• Phân bố: Cá tai tượng lá loài cá đặc trưng ở vùng nhiệt đới, phân bố chủ
yếu ở Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Campuchia, Việt Nam. Hiện nay cá
được nuôi phổ biến ở miền Nam Việt Nam. Mô hình nuôi cá tai tượng
thường là nuôi cá kết hợp trong ruộng lúa.
• Khả năng thích ứng: cá tai tượng có thể sống trong ao giàu chất hữu cơ,
thiếu Oxy nhò có cơ quan thở khí trời nằm ở cung mang thứ nhất. Cá
cũng có thể sống nơi vùng nước chua phèn pH: 4, nước nhiễm mặn có
nồng độ muối từ 6 -8%o và nhiệt độ dao động từ 16 -42oC. Ở điêù kiện
nước ấm từ 22 -30oC cá tăng trưởng nhanh. Ở nhiệt độu thấp cá lớn
chậm và hay bị bệnh. So với cá sặc rằn và rô phi cá tai tượng chịu lạnh
kém hơn, nhưng sức chịu nóng cao hơn.
• Dinh dưỡng: Cá tai tượng ăn tạp thiên về thực vật. Sau khi nở và tiêu hết
noãn hoàng cá ăn động vật phù du nhỏ như Moina, Daphnia, Cyclops.
Sau 2 tuần tuổi cá ăn được trùng chỉ (Tubefix), cung quăng, sâu bọ, bèo
cám... Đến 1 tháng tuổi cá tai tượng ăn tạp thiên về động vật, càng về sau
chúng ăn chuyển sang ăn tạp với thành phần thực vật là chính.
• Sinh trưởng: Cá tai tượng là loài có kích thước lớn. Cỡ cá lớn nhất được
biết là 50 kg. Cá lớn chậm. nuôi trong ao với thức ăn đầy đủ, mật độ thưa,
cá đạt trung bình 600 -800gr/con hay 1kg/con/năm.
• Sinh sản:Cá tai tượng thành thục sinh dục khi ở 1,5 hay 2 năm tuổi, trọng
lượng có thể tham gia sinh sản là 300 - 400gr trong điều kiện nuôi vỗ tốt.
Cá đẻ tốt, số lượng trứng nhiều. Cá con có sức sống cao, cá bố mẹ phải
đạt từ 3-5 tuổi và trọng lượng phải từ 1 -1,5 kg.

Ngoài tự nhiên cá để tập trung vào tháng 2-3 và tháng 8-10 dương lịch. Trong
ao nuôi cá đẻ từ tháng 2-7, nhưng tập trung từ tháng 3 -5 dl. Từ tháng 8 trở đi
cá tham gia sinh sản giảm rõ rệt. mùa vụ sinh sản của cá còn tùy thuộc vào thời
gian nuôi vỗ sơm hay muộn, nếu nuôi vỗ từ tháng 9 -10 năm trước thì cá có thể
tham gia sinh sản vào tháng 1 năm sau.

1.13. Cá Hường (Helostoma temmincki)

• Phân bố: Cá hường phân bố ở Indonesia, Malaysia, Thailand và được di


giống sang một số nước khác trong đó có Việt Nam. Cá sống ở nước
ngọt, nơi hồ nước tĩnh, hoạt động bắt mồi trên tầng mặt và tầng giữa.
• Khả năng thích ứng: Cá sống được trong môi trường giàu chất hữu cơ,
thiếu Oxy và ngay trên cạn trong nhiều giờ nên rất dễ vận chuyển. Cá
cũng chịu đựng được ở nước có pH:5,5, nhưng pH thích hợp là 6 -7 với
nhiệt độ 25 -30oC.
• Dinh dưỡng: Cá giống và cá trưởng thành ăn tảo phù du. Nuôi trong ao cá
ăn cám mịn, bột ngũ cốc, bột cá ... cá tăng trưởng nhanh.
• Sinh trưởng: Cá sinh trưởng chậm, đạt 150 -200gr/con sau 1 năm nuôi.
• Sinh sản: Cá thành thục và tham gia sinh sản lần đầu sau 12 -18 tháng.
Cá đẻ nhiều lần trong năm. Sau 3 tháng cá đẻ 1lần, không có mùa vụ rõ
rệt. Số lượng trứng 1000 - 7000 trứng/1cá cái. Trứng có giọt dầu nên nổi
trên mặt nước, đường kính trứng 1-1,5mm, nở sau 20 giở nhiệt độ 26 -
28o C.

1.14. Cá Bống tượng (Oxyeleotris marrmoratus)

• Phân bố: Cá tai tượng lá loài cá đặc trưng ở vùng nhiệt đới, phân bố rộng
rãi ở các nước Đông nam Á, chủ yếu như Lào, Campuchia, Indonesia,
Thái Lan, Malaysia, Campuchia và Việt Nam. Hiện nay cá được nuôi phổ
biến ở miền Nam. Cá sống trong thủy vực nước ngọt như sông, ngòi,
kênh, rạch, ao, hồ, có tập tính sống đáy, hoạt động nhiều về đêm, ban
ngày thường vùi mình trong bùn. Khi gặp nguy hiểm có thể chúi sâu đến
1m và có thể sống ở đó hằng chục giờ. Tong ao cá thích sống ẩn ven bờ,
những nơi có hang hốc, rong cỏ, thực vật thủy sinh thượng đẳng làm giá
đỡ.
• Khả năng thích ứng: Cá sống được trong môi trường nước phèn pH:5 và
nước lợ có nồng độ muối 15%o, sống được trong nước có điều kiện Oxy
thấp và ngay khi chui rúc trong bùn nhiều giờ nhờ có cơ quan hô hấp phụ.
Nhiệt độ chịu đựng được là 15 - 41,5oC, nhiệt độ thích hợp từ 26 - 32oC.
• Dinh dưỡng: Cá bống tượng ăn động vật. đây là loài cá dữ điển hình.
Thức ăn chủ yếu là tôm, tép, cá nhỏ, cua, ốc... Khác với cá lóc, cá bống
tượng không chủ động bắt mồi mà chỉ rình mồi. Ngoài ra chúng còn ăn
được thức ăn chế biến khi nuôi trong lồng và ao.
• Sinh trưởng: Cá bống tượng có tốc độ tăng trưởng chậm, đặc biệt ở giai
đoạn trọng lượng thân dưới 100gr. Từ 100gr trở lên tốc độ tăng trưởng
của cá khá hơn. Sau 1 năm nuôi cá có thể đạt từ 100 -300gr/con. Cá
thương phẩm trọng lượng thân đạt từ 400gr trở lên. Cá có trọng lượng
thân 100gr cần 5-8 tháng nuôi ở ao và 5 -6 tháng nuôi ở bè để đạt trọng
lượng thương phẩm.
• Sinh sản: Cá bống tượng thành thục sinh dục trên dưới 1 năm. Mùa vụ
sinh sản tự nhiên từ tháng 4-11, tập trung từ tháng 5-8. Sức sinh sản khá
cao từ 100.000 - 200.000 trứng/kg cá cái. Tuy sức sinh sản cao, nhưng
trong tự nhiên cá bị hao hụt nhiều.

1.15. Cá Trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus)

• Phân bố: Cá trắm cỏ phân bố tự nhiên ở các sông hồ miền Trung Á, đồng
bằng Trung quốc, đảo Hải Nam, miền trung và hạ lưu sông Amua. Ở Việt
Nam đã tìm thấy cá trắm cỏ ở sông Hồng tại Hà Nội và sông Kỳ Cùng
(Lạng Sơn). Hiện nay cá trắm cỏ được di giống đến 50 nước trê thế giới.
Cá thích sống ở tầng giữa và tầng dưới vùng ven bờ, nơi có nhiều rong
cỏ thủy sinh.
• Khả năng thích ứng: Cá trắm cỏ có thể sống trong môi trường nước lợ với
nồng độ muối 7-11%o. Cá có chiều dài 5-7cm, chịu đựng rất lớn với điều
kiện môi trường thay đổi như nhiệt độ tăng 4-22oC từ 2-3 giờ và nồng độ
Oxy thấp từ 3-7mg/l thì ít bị ảnh hưởng.
• Dinh dưỡng: Sau khi nở cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng, 3 ngày sau khi
nở cá ăn động vật phù du như luân trùng, ấu trùng không đốt và một số
tảo hạ đẳng, ấu trùng giáp xác, ấu trùng cô trùng cỡ nhỏ. Cá dài 2-3cm
bắt đầu ăn một ít mầm non thực vật thượng đẳng, bèo tấm, rong, rau bèo
thái nhỏ. Khi đạt chiều dài thân 10cm, cá ăn chủ yếu là thực vật thượng
đẳng ở nước và trên cạn như cá trưởng thành. Ngoài ra cá còn ăn cám,
bột ngũ cốc, động vật như giun đất...
• Sinh trưởng: Cá trắm cỏ nếu nuôi tốt sẽ đạt 1kg/con sau 1 năm nuôi, 2
tuổi có thể đạt từ 2-9kg, 3 tuổi nặng 9 -12kg/con.
• Sinh sản: Trong tự nhiên cá cá sinh sản từ tháng 5-6. Nuôi ao có thể cho
đẻ nhân tạo sớm từ tháng 3 và đẻ nhiều lần trong năm. Cá cái 3 tuổi, cá
đực 2 tuổi bắt đầu thành thục sinh dục.

2. Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii)

• Phân bố: Tôm càng xanh phân bố ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Hiện
nay có hơn 100 loài, trong đó có 3 loài lớn nhất và có giá trị kinh tế nhất là
M. americanum phân bố các lưu vực phía tây châu Mỹ, M. carcinus gặp
các ở các vùng tiếp giáp Đại Tây Dương và M. rosenbergii hiện diện khắp
vùng Nam và Đông Nam Á châu, Bắc châu Đại Dương và các quần đảo
phía tây Thái Bình Dương. Tôm sống ở nước ngọt và nước lợ. Phạm vi
phân bố tự nhiên phụ thuộc vào độ mặn và độ phèn. Ở Việt nam, tôm
sống tập trung tại đồng bằng sông Cửu Long. Trên thế giới tôm tập trung
ở khu hệ Ấn Độ Dương, Tây nam Thái Bình Dương. Hiện nay tại đồng
bằng sông Cửu Long, tôm càng xanh được nuôi phổ biến trong ruộng lúa,
ao, mương vườn.
• Khả năng thích ứng: Khả năng chịu đựng nhiệt độ của tôm từ 26 -31oC.
Nhiệt độ dưới 14oC hoặc trên 35oC thường gây nguy hại cho tôm. Tôm
trưởng thành có khả năng sống ở độ mặn 5-28%o. Ấu trùng sống ở độ
mặn 8-18%o. pH thích hợp cho tôm từ 7-8.5. Hàm lượng Oxy hòa tan
thích hợp phải lớn hơn 3mg/l, nếu thấp hơn tôm sẽ yếu dần và chết.
• Dinh dưỡng: ở giai đoạn ấu trùng tôm ăn liên tục. Thức ăn chủ yếu là giáp
xác nhỏ, đặc biệt là Artemia. Ngoài ra tôm còn ăn các loại thức ăn khác
như cá, tép, trứng, bột đậu nành ... Đến giai đoạn hậu ấu trùng và tôm
lớn, tôm thường ăn thức ăn có nguồn gốc động vật, giáp xác, ấu trùng
côn trùng, các loài thực vật ... Tôm có thể ăn lẫn nhau khi trong môi
trường thiếu thức ăn và tôm lột xác dễ bị tôm khỏe mạnh ăn thịt. Tôm có
tập tính ăn về đêm.
• Sinh trưởng : Tôm càng xanh sống trong môi trường nước ngọt trong các
sông, ao, hồ ... đến mùa sinh sản tôm bơi xuôi dòng nước ra ngoài cửa
sông để đẻ. Ấu trùng sống trong nước lợ sau đó bơi ngược dòng nước
vào các thủy vực nước ngọt. Từ lúc trứng mới nở đến giai đoạn hậu ấu
trùng tôm trãi qua 12 lần lột xác và sau mỗi lần lột xác tôm có sự thay đổi
cả về hình dạng và kích thước. Sau đó, tôm lột xác để tăng trưởng. Chu
kỳ lột xác của tôm nhỏ ngắn hơn tôm lớn.

Chu kỳ sống của tôm càng xanh


• Sinh sản: Tôm càng xanh có thể thành thục và bắt đầu sinh sản sau 6-8
tháng nuôi kể từ giai đoạn hậu ấu trùng. Trong tự nhiên tôm dễ thành thục
và phải di chuyển ra vùng cửa sông để đẻ và nở thành ấu trùng trong điều
kiện môi trường phù hợp. Ấu trùng sẽ chết sau vài ngày nếu sống trong
môi trường nước ngọt.

Tôm giao vĩ quanh năm, nhưng tập trung vào hai mùa chính từ tháng 2- 4 và từ
tháng 8-11 dl. Sự giao vỹ xảy ra khi con cái vừa lột xác (con đực không lột xác),
trứng đẻ ra và thụ tinh sau vài giờ. Tôm cái mang trứng ở bụng nhờ một màng
bọc và nở thành ấu trùng sau 18-23 ngày. Nhịp sinh sản của tôm khá nhanh,
bình quân 23 ngày/lần, đôi khi một tháng 2 lần. Tôm càng xanh đẻ trứng rất
nhiều và tùy thuộc vào mùa và kích thước của tôm bố mẹ. Tôm có thể đẻ
80.000 - 100.000 trứng.
3. Trai nước ngọt (Sinohyriopsis cumingii (Lea), Cristaria bialata (Lea),
Sinanodonta elliptica)

• Tình hình nuôi trai ngọc :


o Ở các nước trên thế giới: Nghề nuôi trai ngọc đã hình thành và
phát triển ở Nhật bản, Trung Quốc từ những năm 1940. Ở Nhật
Bản, chỉ riêng tỉnh Shiga đã có 38 cơ sở nuôi trai nước ngọt để cấy
ngọc (công ty và hộ gia đình) . Những năm gần đây đã phát triển
sang một số nước châu Âu, châu Á, đặc biệt là các nước vùng
Đông Nam Á như Ấn Độ, Thái Lan, Bangladet, Myanmar,
Indonesia, Malaysia…
o Ở Việt Nam: Từ những năm của thập kỷ 1960, Việt Nam đã tổ
chức nghiên cứu, nuôi và thực hiện cấy ngọc ở các vùng đảo Cô
Tô, Minh Châu, Thanh Lân, Quan Lan đã thu được kết quả tốt. Trai
ngọc nước ngọt cũng được viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy sản
I nghiên cứu từ năm 1967 và thu được một số kết quả.
• Phân bố: Trong các loài trai nước ngọt, ta thường gặp 3 loài có giá trị kinh
tế là trai cánh đen Sinohyriopsis cumingii (Lea), trai cánh xanh Cristaria
bialata (Lea) và trai đồng Sinanodonta elliptica. Trong đó hai loài trai cánh
đen và cánh xanh được sử dụng làm làm nguyên liệu cấy ngọc.
o Trai cánh đen phân bố ở cá sông Cầu, sông Thương, sông Châu
Giang, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tích Giang. Sông Lam (Nghệ
An). Đây là đối tương cấy ngọc tốt. Mùa vụ khai thác từ tháng 4-9.
Thịt làm thực phẩm, vỏ làm nguyên liệu khảm xa cừ.
o Trai cánh xanh phân bố nhiều ở sông Đáy, đầm Vạc (Vĩnh Phú).
Nhân dân nuôi cá vùng Phú Xuyên (Hà Tây), Thanh Trì (Hà Nội),
đầm Vạc (Vĩnh Phú) nuôi loài trai nầy kết hợp trong ao, đầm nuôi
cá để lấy vỏ và thịt. Đây cũng là đối tượng cấy ngọc nhưng vỏ
mỏng, mép màng áo dầy mỏng không đều.
o Trai đồng phân bố rộng khắp ở các thủy vực nước tỉnh, được khai
thác quanh năm để làm thực phẩm. Đây cũng là đối tượng nuôi cấy
ngọc, nhưng hiệu quả cho ngọc thấp.
• Dinh dưỡng: Trai ăn chủ yếu là thực vật phù du bao gồm các loài:
Crucigenra, Scenedesmus, Pedasstrum…Trai ăn thụ động, thức ăn được
hút theo nước qua ống si-phông đưa vào cơ thể. Vì thức ăn được lọc qua
mang vào dạ dày, nên được gọi là loài biện mang.
• Sinh trưởng: Trai nước ngọt là loài nhuyễn thể sống vùi mình trong bùn
đáy. Tốc độ sinh trưởng chịu ảnh hưởng do chất đáy và lượng thức ăn có
sẳn trong nước. Trai cánh xanh sinh trưởng rất nhanh, hai năm tuổi có thể
đạt 18-20cm, trọng lượng tươi đạt 500 -700gr. Trai đồng sinh trưởng tốc
độ chậm hơn, kích thước cũng nhỏ hơn. Trai cánh đen sống ở đáy sông
sâu 4 -15m, tốc độ sinh trưởng chậm. để đạt được chiều dài 14-15 cm và
trọng lượng 120 -140 gr phải mất 3 năm rưởi đến 4 năm. Khi đưa vào ao
nuôi tốc độ sinh trưởng nhanh hơn. để đạt kích thước và trọng lượng trên
chỉ cần 2 năm rưởi đến 3 năm, tuy ngoại hình và màu sắc vỏ có biến đổi
chút ít.
• Sinh sản: Trai nước ngọt có đực cái phân biệt (không phân biệt được
bằng ngoại hình, phải quan sát sản phẩm sinh dục bằng kính hiển vi).
Sinh sản bằng cách thụ tinh trong. Trai cánh đen mang trứng từ tháng 4-
9, tập trung vào tháng 5-7. Trai cánh xanh và trai đồng mang trắng tập
trung từ tháng 11- tháng 3 năm sau. Trứng có hình elip, đường kính dài
300 micron, đường kính ngắn 230micron. Thời kỳ phát triển từ thụ tinh
đến lúc trưởng thành ấu trùng Glochidium có thể kéo dài từ 2-5 tuần tùy
theo nhiệt độ nước. Trai cánh xanh và trai đồng thường đẻ tự nhiên trong
thủy vực nước tỉnh như hồ, ao, đầm, ruộng…

4. Nuôi lưỡng thê và Bò sát


4.1. Ếch đồng (Ranatigrina ragulasa)
• Phân bố: Ếch là động vật có nhiều ở vùng nhiệt đới. Nhóm động vật ếch
nhái trên thế giới có khoảng 2000 loài. Họ ếch là một trong những họ lớn
nhất của lớp ếch nhái gồm 46 giống và 555 loài. Riêng ở Việt Nam ếch
phân bố cũng khá phong phú như ếch đồng, ếch xanh, ếch gai , ếch cốm
... Trong đó ếch đồng (Ranatigrina ragulasa) là có giá trị cao hơn các loài
khác.
• Khả năng thích ứng: Ếch không chịu được rét. Nên đào hang ẩn nấp suốt
mùa đông. Thời tiết ấm áp ếch rời hang và kiếm ăn vào ban đêm. Ban
ngày về hang ẩn nấp hoặc nằm ngâm mình trong các đám rau bèo trên
mặt nước. Ếch rất sợ rắn và chuột. Có thể xem chúng là địch hại của ếch.
• Dinh dưỡng : Ếch ăn cá, tép, cua, sâu bọ... bắt mồi thụ động, thường ngồi
một chỗ để quan sát những con mồi di động, rình mồi và nuốt chửng con
mồi. Nó có thể nuốt được một con cua khá to. Nuốt mồi xong, ếch lại tiếp
tục ngồi rình con mồi mới.
• Sinh trưởng: Ếch sinh trưởng tương đối chậm. Con cái 1 tuổi nặng
khoảng 60gr. Con đực khoảng 50gr.
• Sinh sản: Phân biệt giới tính đực cái của ếch không khó. Ếch đực được
nhận ra nhờ túi âm thanh nằm ở hai bên hầu, hình thành nếp da nhăn
màu vàng đen. Ngoài ra ếch đực còn có “chai tay” tại gốc ngón tay thứ
nhất ở chi trước, hình thành một mấu lồi đã hoá sừng màu xanh đen., còn
được gọi là “chai sinh dục”.

Ếch đẻ trứng và thụ tinh ngoài. Trứng ếch được kết thành bè bằng một lớp
màng nhày nổi trên mặt nước. Trứng nở ra nòng nọc sống hoàn toàn trong
nước. Khi nòng nọc biến thái thành ếch thì sống cuộc đời vừa ở cạn vừa ở
nước, nên còn được gọi là động vật lưỡng cư hay lưỡng thế.
1.2. Ba ba (Thuộc họ Trionychidae)

• Phân bố: Ba ba sống được cả mực nước dưới đáy sông, hồ sâu 4-5m.
Chúng thường tập trung nhiều ở những đoạn sông tiếp giáp với cửa các
dong keenhdaaxn vào đồng ruộng.
• Khả năng thích ứng: Nhiệt độ là yếu tố quyết định đến sự hoạt động, khả
năng ăn mồi, tốc độ sinh trưởng và thời gian sinh sảnh của ba ba. Ba ba
có tập tính trú đông. Vào mùa nầy ba ba ăn rất ít. Khi nhiệt độ xuống thấp
dưới 12oC ba ba ngừng ăn và ẩn mình dưới bùn.. Nhịn ăn 1 tháng không
chết, trong thời gian nầy tốc độ sinh trưởng của ba ba dừng lại.
• Dinh dưỡng: Thức ăn của Ba ba chủ yếu là cá, tép, cua, ốc, giun đất và
thịt các loài động vật khác. Chúng thích ăn thịt các con vật bắt đầu ươn.
Khi ăn chúng tranh mồi và mang ra chỗ khác ăn riêng. Chúng sẳn sàng ăn
đồng loại khi đói, con lớn ăn con nhỏ.
• Sinh trưởng: Tốc độ sinh trưởng của ba ba tương đối chậm.Trong môi
trường ao nuôi, từ khi mới nở đến 2 tháng tuổi, mỗi tháng ba ba chỉ lớn
thêm 10gr. Từ 3-5 tháng tuổi mỗi tháng lớn thêm 20gr. Nếu nuôi đến kich
cỡ 100gr/con thì sau 1 năm nuôi đạt 04-0,5kg. Sang năm thứ hai ba ba sẽ
đạt cỡ 0,9-1,2kg/con.
• Sinh sản: Ba ba có giới tính đực, cái phân biệt. Chúng là loài thụ tinh và
đẻ trứng. Sau hai năm tuổi ba ba bắt đầu tham gia sinh sản và đẻ từ 2- 4
lứa. Khoảng cách mỗi lứa đẻ của ba ba hơn 1 tháng. Mùa vụ sinh sản từ
tháng 2-7. Ba ba đẻ vào ban đêm, đào lỗ trên cạn đẻ trứng, xong láp cát
lại, mỗi lứa đẻ từ 5-10 trứng. Nhờ sức nóng khí trời, khoảng 50 - 60 ngày
sau, trứng nở. Ba ba con tự bò xuống nước.

Môi trường nước lợ và mặn

1. Cá
1.1. Cá Mú - Grouper (Họ Serranidae)
Họ cá mú có 75 giống, trên 400 loài. Có nhiều loài cá mú chỉ dài 20cm, nặng
100gr, nhưng cũng có loài dài 1,5m , nặng trên 300kg. cá mú có thể sống 7- 8
năm. Cá có màu sắc rực rỡ, thuộc bọn cá dữ ăn thịt, có đặc tính rình bắt mồi.
Chúng thường sống ở vùng ve bờ, có nền đá, san hô. Ở Việt Nam có trên 30
loài cá mú, trong đó có một só loài có giá trị kinh tế như

a. Cá Mú hoa nâu - Flowery cod (Epinephelus fuscoguttatus)

• Phân bố: Loài cá có kích thước lớn, cá khai thác có chiều dài từ 40 -
70cm, kích thước tối đa 120cm. Cá có màu vàng hoặc nâu, trên thân có
nhiều đốm đen nhỏ, dọc vây lưng cs 4-5 vệt đen. Chúng sống ở vùng rạn
đá, san hô, vùng ven bờ. Có khi bắt gặp ở độ sâu 60m. Cá nhỏ thường
sống ở vùng nước cạn, cá lớn ở vùng nước sâu.
• Dinh dưỡng: đây là loài cá dữ, chúng ăn giáp xác và các loài cá nhỏ.
• Sinh trưởng: cá mú có tốc độ sinh trưởng nhanh, cá giống 30 -50gr nuôi
sau 6-8 tháng đạt trọng lượng 500gr đến 1kg.
• Sinh sản: Hầu hết các loài cá mú đẻ quanh năm, nhưng tập trung vào
những tháng lạnh, nhiệt độ nước xuống thấp. Dođó tùy theo địa phương
mà mùa vụ xuất hiện cá gióng khác nhau. Ở vùng biển miền Trung Việt
Nam, loài cá mú nầy thường gặp ở vùng biển Bình Thuận, Khánh Hòa và
Qui Nhơn.

b. Cá mú vạch (E. brunneus)

• Phân bố: Đây cũng là loài cá mú có kích thước lớn. Cá sống ở vùng nước
ven bờ. Cơ thể có màu nâu, trên thân có đôi vạch ngang thân màu đen,
có 4 vạch phóng xạ chạy từ mắt đến mõm và phần sau của đầu. Những
vạch trên thân có thể biến mất khi cá có kích thước lớn hơn 60cm.
• Dinh dưỡng: Trong tự nhiên, cá giống ăn các loài giáp xác và các loài cá
nhỏ. Cá lớn bắt mồi có kích thước lớn hơn. Cá là loài hoạt động bắt mồi
về đêm, ban ngày cá ít hạt động, thường ẩn nấp trong các hang đá, các
rạn san hô, thỉnh thoảng mới đi kiếm mồi. Khi nuôi lâu, cá thích nghi với
điều kiện nhốt, cá ăn cả vào ban ngày.
• Sinh trưởng : Cá đánh bắt ở biển có chiều dài từ 40 - 90cm, cực đại
50cm.
• Sinh sản: Cá giống (có chiều dài 10 -15cm) thường sống ở vùng đầm phá
nước lợ. Cá lớn chỉ gặp ở biển, từ vùng biển Thừa Thiên cho đến Khánh
Hỏa. Cá xuất hiện quanh năm, nhưng tập trung từ tháng 2 - 6. Đây là loài
cá có số lượng giống nhiều hơn so với các loài cá mú khác.

c. Cá Mú chấm tổ ong - Honeycomb cod (E.merra)

• Phân bố: Cá phân bố ở vùng cửa sông và cửa biển. Cá giống xuất hiện ở
vùng biển miền Trung từ tháng 2 đến tháng 7.
• Dinh dưỡng: trong tự nhiên, chúng ăn giáp xác và các loài cá nhỏ.
• Sinh trưởng: Cá có kích thước trung bình, chiều dài cá khai thác dao động
từ 20 -30cm, cực đại là 50cm. Thân có nhiều đốm màu nâu vàng hình
nhiều cạnh. Ở vây cá các đốm nầy thường có màu đỏ.
• Sinh sản: Các loài thuộc họ cá mú đều có hiện tượng chuyển đổi giới tính:
khi còn nhỏ tất cả đều là con cái. Khi đạt đến một kích thước nhất định,
một số con sẽ chuyển thành con đực. Sức sinh sản của cá mú khá cao.
Số lượng trứng đẻ ra từ vài trăm nghìn đến vài triệu trứng.

1.2. Cá Chẽm - Seabass (Lates calcarifer)

• Phân bố: Đây là loài cá rộng nhiệt, rộng muối, thường sống ở vùng cửa
sông, đầm, phá. Thân cá dài, dẹp bên, từ gáy đến mõm cong xuống.
Lưng màu xám, bụng màu trắng bạc. Chiều dài cá đánh bắt đạt kích
thước từ 20-40cm, đôi khi đạt 70cm. Ở vùng biển Việt Nam cá phân bố tại
vịnh Bắc bộ, ven biển miền Trung và vùng duyên hải thành phố Hồ Chí
Minh.
• Dinh dưỡng: Cá chẽm ăn tôm, tép và nhuyễn thể.
• Sinh trưởng: Cá nuôi lồng đạt trọng lượng từ 0,6 -1kg/năm. Cá nuôi 2
năm tuổi có thể đạt 2-3kg/con.
• Sinh sản: Cá chẽm có hiện tượng đổi giới tính: lúc nhỏ là cá đực, đến khi
đạt một kích thước nhất định sẽ chuyển thành cá cái. Đến tuổi thành thục
sinh dục di cư ra biển để đẻ. Cá con di cư vào cửa sông, sống ở đó và
trưởng thành. Cá chẽm sinh sản quanh năm, nhưng thời điểm đẻ rộ khác
nhau tùy theo vùng. Ở Bà Rịa, Cần Giờ cá đẻ tập trung vào tháng 3-4,
tháng 5-6 ngư dân có thể thu cá giống ở các vùng ven bờ.

1.3. Cá Măng - Milk fish (Chanos chanos)

• Phân bố: Cá phân bố nhiều ở vùng nhiệt đới khu vực Ấn Độ Dương và
Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, cá măng bột xuất hiện theo ven biển miền
Trung từ Quảng Ngãi đến Ninh Thuận.
• Khả năng thích ứng: Cá Măng là loài rộng muối, lúc mới nở cá sống ở độ
mặn 0-20%o. Khi lớn cá có thể sống ở độ mặn 80%o. Cá có thể sống
trong nước có Oxy hòa tan thấp và nồng độ muối thay đổi đột ngột.
• Dinh dưỡng: Ngoài tự nhiên cá ăn sinh vật phù du, các loại tảo lam, tảo
lục, tảo khuê và luân trùng. Cá trưởng thành ăn các loại rau xanh, rong
rêu và mùn bã hữu cơ.
• Sinh trưởng: Cá nuôi 1 năm ở đầm đạt 300-400gr/con.
• Sinh sản: Cá măng đẻ trứng ngoài khơi, sau khi trứng nở cá con trôi dạt
vào bờ theo dòng triều vào đìa, đầm … nước lợ để sống. Khi trưởng
thành lại ra biển sinh sản. Cá sống trong đầm nước lợ vẫn phát dục. Cá
thành thục lúc 6 tuổi, con đực dài 94cm. con cái dài 100cm. lượng trứng
đẻ khoảng 3-4 triệu. Bãi đẻ ở độ sâu 30 - 40m.

1.4. Cá Cam - Yellow tail (Seriola spp)

• Phân bố: Ở Việt Nam thường gặp các loài cá cam Seriola dumerilii (cá bò
biển), S. nigrofasciata (cá cam sọc đen), S. aureovitatus (cá cam vàng,
trác đuôi vàng). Cá sống ở ven bờ, thường tập trung thành đàn ở tầng
mặt và tầng giữa.Cơ thể dẹp bên, thân dài có màu xám ở lưng, bụng
trắng bạc, có 2 gai ở trước vi hậu môn.
• Dinh dưỡng: Cá nhỏ ăn động vật phù du như Branchiomus, ấu trùng
nhuyễn thể, giáp xác. Cá trưởng thành ăn các loài cá nhỏ, một số động
vật thân mềm. Ngoài tự nhiên cá ăn giáp xác và cá nhỏ.
• Sinh trưởng: Kích thước cá khai thác cá khai thác dao động từ 30-50cm,
cực đại 70cm. Có tốc độ tăng trưởng khá nhanh. Cá nuôi 2 năm tuổi đạt
trọng lượng 2-3 kg/con.
• Sinh sản: Cá sinh sản ngoài biển khơi ở độ mặn 33-35%o, pH: 7-8, Oxy
hòa tan trên 4mg/l. Sau khi đẻ trứng nở thành con bám vào các vật trôi
nổi như rong rêu.

1.5. Cá ngựa -Seahorse (Hippocampus)

• Phân bố: Cá ngựa là loài phân bố rộng ở vùng biển nhiệt đứi và cận nhiệt
đới. Hiện nay trên thế giới có khoảng 28 loài. Ở Việt Nam cá ngựa phân
bố ở vùng vịnh Bắc bộ, ven biển miền Trung và vịnh Thái Lan. Các tỉnh
Bình Thuận, Khánh Hòa là nơi khai thác cá ngựa với sản lượng cao hơn
các tỉnh khác. Hiện nay đã phát hiện 4 loài cá ngựa sống ở vùng biển Việt
Nam: cá ngựa gai (Hippocampus histrix), cá ngựa ba chấm
(H.trimaculatus), cá ngựa đen (H. kuda), cá ngựa mõm ngắn
(H.spinosisimus). Tất cả các loài cá ngựa sống đáy và gần đáy, chỉ khi
nào thiếu thức ăn cá mới di chuyển lên tầng mặt. Cá thường sống đơn
độc và ít di chuyển, trừ khi cá đi đẻ và giao phối vào mùa sinh sản. Cá
sống ở vùng đáy cát bùn có nhiều chà, rong lá hẹ (Thalassia spp.). Cá
ngựa đen phân bố ở vùng cửa sông, đầm phá nước lợ. Cá ngựa gai và cá
ngựa ba chấm sống ở biển.
• Khả năng thích ứng: cá ngựa đen là loài rộng muối (nồng độ muối 22-
34%o) và rộng nhiệt (26-32oC).
• Dinh dưỡng: Cá ngựa là loài không có dạ dày ruột thẳng. Cá ngựa con ăn
chủ yếu là Copepoda và một số ấu trùng giáp giáp xác. Cá ngựa có kích
thước lớn hơn 45mm ăn chủ yếu là tôm thuộc họ Palaemonidae và kế đó
là nhóm bơi nghiêng (Amphipoda), ấu trùng giáp xác và thân mềm
(Mollusca).
• Sinh trưởng: cá ngựa là loài sinh trưởng nhanh, vòng đời ngắn. Cá khai
thác ngoài tự nhiên thường gặp kích thước chiều dài thân từ 120-200mm
ở nhóm cá 1-2 tuổi. Cá con mới nở dài 4-6mm.
• Sinh sản: Cá ngựa là loài phân tính. Phân biệt hình thái bên ngoài có sự
khác biệt về đực và cái. Cá đẻ quanh năm. Thời điểm đẻ tập trung tùy
theo loài. Cá con mới đẻ có hình thái gióng cá trưởng thành, có khả năng
bơi lội và bắt mồi ngay và có tính hướng quang mạnh. Cá 1 tuổi đã tham
gia sinh sản lần đầu.

2. Giáp xác(Crustacae)
2.1. Tôm Sú (Penaeus monodon)

• Phân bố: Tôm sú phân bố chủ yếu ở các vùng ven biển châu Á- Thái Bình
Dương, từ phía nam Nhật Bản xuống phía bắc Úc châu, từ Đông Phi châu
sang Indonesia. Tại Việt Nam tôm sú có nhiều ở các vùng ven biển miền
Trung.
• Dinh dưỡng: Tôm sặpn tạp thiên về ăn các loại động vật nhỏ như giun,
nhuyễn thể, cá, côn trùng, trong ruột tôm còn tìm thấy các mảnh thực vật,
bùn, cát. Tính ăn thay đổi theo từng giai đoạn. Ấu trùng Zoea (Z) ăn thực
vật phù du, ấu trùng Mysis (M) chủ yếu ăn động vật phù du. Hậu ấu trùng
Post larvae (Pl) ăn tạp, thiên về ăn động vật.
• Sinh trưởng: Ương Post larvae trong ao sau 25-30 ngày, tôm sú đạt cỡ 2-
3cm dài. Nuôi trong ao sau 4 tháng, tôm có thể đạt cỡ trung bình 25-
40gr/con. Tôm tăng trưởng qua nhiều lần lột xác và có tính chu kỳ.
• Sinh sản: Ngoài tự nhiên ở vùng biển miền Trung - Việt Nam, mùa sinh
sản của tôm sú từ tháng 2-5 và từ tháng 7-9. Ở các thủy vực miền Nam,
mùa sinh sản của tôm sú có thay đổi chút ít, tùy thuộc vào điều kiện thời
tiết thay đổi hằng năm. Sức sinh sản từ 300.000 - 1.000.000 trứng/con.

2.2. Cua biển (cua xanh, cua bể - Scylla serrata)

• Phân bố: Cua thường gặp ở các nước xung quanh Việt Nam như Trung
quốc, các nước ASEAN, châu Úc, Ấn Độ. Cua ưa sống vùng biển nông,
các cửa sông, eo vịnh nơi có nhiều mùn bã hữu cơ.
• Dinh dưỡng: Cua ăn tạp thiên về động vật. Thức ăn chủ yếu là nhuyễn
thể như trai, ốc, tôm con, cá con, mùn bã hữu cơ, xác động vật thối rữa.
Khi thiếu thức ăn chúng có thể ăn thịt lẫn nhau. Trước và sau khi lột xác,
biến thái, cua ngừng ăn.
• Khả năng thích ứng: Cua thịt thích sống ở những nơi có độ muối: 8 -
30%o. Nhiệt độ thích hợp 18-25oC. Ở 39oC hoặc dưới 12oC cua bỏ ăn.
• Sinh trưởng: Ấu trùng trãi qua nhiều lần lột xác để biế thành cua con 2-
3cm, sống ở các bãi trong rừng ngập mặn thuộc hạ triều. Nếu môi trường
đảm bảo, thức ăn thích hợp sau 20 -28 ngày cua lột xác một lần. Khi thiếu
một bộ phận của cơ thể cua có khuynh hướng lột xác sớm hơn.
• Sinh sản: Cua trưởng thành phát dục, giao vĩ và đẻ trứng trong vùng
nước lợ. Phôi phát triển và nở ra ấu trùng ở vùng biển sâu.

3. Nhuyễn thể (Mollusca)


Điệp có khoảng 300 loài là sản phẩm quí. Ở Việt Nam có 7 loài điệp, trong đó co
một loài điệp quí gọi là điệp Bình Thuận. Hiện nay TT Nghiên Cứu Thủy Sản
miền Trung đã thí nghiệm sản xuất được điệp giống.
3.1. Điệp quạt (điệp quí) (Chlamys nobilis)

• Phân bố: Điệp sống từ tuyến hạ triều đến độ sâu hằng trăm mét nước.
Chất đáy cát sỏi ở độ sâu 20-30m tương đối thích hợp với điệp và cho
sản lượng cao nhất.
• Khả năng thích ứng: Độ mặn thích hợp 30 - 35%o, nhiệt độ nước 24-
28oC.Trứng thụ tinh và phát triển ở độ mặn 20 - 40%o, thích hợp nhất 25-
35%o. Điệp giống cỡ 1-2mm độ mặn thích hợp là 25-33%o. Điệp trưởng
thành độ mặn thích hợp 22 -40%o. Nếu độ mặn dưới 16%o và trên 50%o
điệp chết.
• Dinh dưỡng: Điệp ăn lọc qua qua màng, thức ăn đưa vào miệng nhờ xúc
tu ở môi. Thức ăn chủ yếu là thực vật phù du (tảo silic) và mùn bã hữu
cơ.
• Sinh sản: Điệp sinh sản lần đầu tiên có kích thước 58mm (chiều cao vỏ)
khi thu mẫu ít gặp con cỡ 42mm và 48mm đã thành thục. Mỗi đợt đẻ, mỗi
con đẻ 4-6 lần trong 15 -20 phút. Sau khi đẻ 5 phút, trứng lắng xuống đáy
bể. Đường kính trứng là 45- 60 µm.

3.2. Vẹm (Chloromaya smaragdinus, Mytilus crassitesta, Mytilus edilus)

• Phân bố: Vẹm thường sống ở các eo vịnh, vùng gần cửa sông, phân bố
tuyến hạ triều, độ sâu 4-5m nước, thường tập trung ở mức nước trung
triều thấp nhất, cách đáy 30cm. Vẹm xanh cũng thấy được ở các bãi đá
ngầm, cầu cảng, cọc đáy. Đáy là cát bùn, có dòng nước chảy nhẹ, trong
sạch.
• Khả năng thích ứng: Vẹm sống ở vùng nước lợ tại các đầm phá, cửa
sông, độ muối thích hợp 15-32%o, nơi nước sâu 1- 4m.
• Dinh dưỡng: Vẹm là loài ăn lọc nước mạnh, thức ăn là thực vật nổi, mùn
bã hữu cơ. Ở nhiệt độ bình thường một con vẹm lớn cỡ 5-6cm có thể lọc
được 3,6 lit nước/giờ.
• Sinh trưởng: Vẹm tăng trưởng bình thường 3- 4cm/con/năm. Cá biệt có
con đạt 6-7cm. Vẹm tăng trưởng nhanh từ tháng 10 - tháng 3 năm sau.
Nuôi 1 năm thì thu hoạch.
• Sinh sản: Mùa sinh sản của vẹm từ tháng 10-11, mùa phụ từ 3-4.Vẹm
giống xuất hiện vào tháng 4-5. Ấu trùng vẹm sống trôi nổi, khi tìm được
vật bám, chúng bám vào và phát triển thành vẹm lớn. Có khi bám 50-
60con/cọc.

3.3. Ốc hương (Babylonia areolata)

• Phân bố: Ốc sống ở các vùng bãi triều thềm lục địa, xa bờ 8-15km, độ sâu
8-25m. Sống nơi đáy cát bùn, khi gặp mồi thích hợp ốc hợp thành đàn để
rúc, rỉa. Ở Việt Nam ốc phân bố dọc ven biển Thanh Hóa, Nghệ An Hả
Tĩnh, Quảng Bình và một số tỉnh thuộc phía Nam Trung bộ.

Mùa vụ khai thác chính vào tháng 1- 4 âm lịch, mùa phụ tháng 10-12 âm lịch.
3.4. Trùng trục (Sinonovacula constricta)

• Phân bố: Ở Việt Nam trùng trục phân bố ở bãi triều Quảng Ninh, từ Hải
Phòng đến Thanh Hóa.
• Khả năng thích ứng: Trùng trục chịu được nhiệt độ từ 0-39oC, độ muối 7-
30%o, tốt nhất là 10-24%o. Sống nơi chất đáy bùn cát, bùn mềm.
• Dinh dưỡng : Trùng trục ăn lọc, thức ăn là tảo đơn bào, tảo khuê sống ở
đáy.
• Sinh trưởng: Trùng trục cỡ 1 tuổi chiều dài thân đạt 4-5cm, lớn nhất
khoảng 6cm, nặng 10grs, đến năm thứ tư dài 8cm, hơn 5 năm dìa 12cm.
• Sinh sản: Trùng trục 1 năm tuổi thì thành thục, chiều dài vỏ 2,5cm thì có
thể đẻ được

3.5. Bào ngư (Haliotis spp)

• Phân bố: Trên thế giới có 75 loài bào ngư, trong đó có 20 loài có giá trị
kinh tế được nuôi và phát triển rộng. Ở Việt Nam bào ngư được tìm thấy
tại Quảng Ninh, hải Phòng, Khánh Hòa, Côn Đảo, Phú Quốc, đảo Thổ
Chu.
• Khả năng thích ứng: Bào ngư con ưa sống vùng nước nông (dưới 1m),
con lớn ở độ sâu 8-9m, độ muối 22- 30%o, nơi có nhiều tảo mộc và các
rạng đá. Ở nhiệt độ 14-24oC bào ngư ăn mạnh nhất. Ban ngày ẩn mình
trong hang tối.
• Dinh dưỡng: Thức ăn là các loài tảo nhỏ như tảo khuê: Coscinodiscul,
Navicula…mùn bã hữu cơ, các loài rau câu Gracilaria, rong mơ
Sargassum, tảo xanh Ulva, Gastropoda, Copepoda … Màu sắc của vỏ
bào ngư phụ thuộc nhiều vào thức ăn. Thời gian bắt mồi từ 17-18 giờ
chiều đến 5-6giờ sáng.
• Sinh trưởng: Bào ngư lớn chậm, hằng năm chiều dài vỏ tăng trung
bìnhtwf 1,5 -1,7cm. Sau 3-4 năm tuổi mới đạt 6-7cm. Khi cung cấp thức
ăn đầy đủ nó có thể lớn nhanh gấp về kích thước thân 1-2 lần và khối
lượng tăng gấp 3,5 lần so với cùng thời gian nuôi trong bãi tự nhiên.
• Sinh sản: Bào ngư là loài phân biệt giới tính rõ ràng. Tham gia sinh sản
lần đầu vào lúc 2 tuổi. Mùa sinh sản vào tháng 3-4 và 9-10, khi nhiệt độ
nước ở 26-28oC, độu mặn 30-31%o. Bào ngư bố mẹ phát dục trông điều
kiện độ mặn hơn 30%o. Khi nhiệt độ cao, độ mặn thấp, bào ngư không
phát dục.

4. Nuôi trồng rong sụn (Kappaphycus alvarezii)

• Phân bố: Rong sụn là loài thích nghi ở vùng nhiệt đới, có nguồn gốc từ
Philippine. Hiện nay được nuôi ở các tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên, Bình
Định, Thừa Thiên Huế, Nghệ An, Hải Phòng. Riêng Ninh Thuận đã mở ra
hàng trăm hecta nuôi ở biển, trong đầm, tăng trọng 10-12%/ngày, năng
suất khá, góp phần cải tạo đầm nuôi tôm.
• Khả năng thích ứng: Rong phát triển và cho chất lượng tốt ở nhiệt độ 25-
28oC. Độ muối thích hợp cho rong lớn và chất lượng cao là 28-34%o.
Trong tự nhiên ở độ mặn 20-30%o rong vẫn tăng trọng với tỷ lệ 5%/ngày.

Rong thích hợp với ánh sáng vừa phải. Ánh sáng quá mạnh hay quá yếu đều
ảnh hưởng ức chế đến sự phát triển của rong.
Rong phát triển ở những vùng nước có dòng chảy, hoặc có sự di chuyển
thường xuyên của nước. Nước tù đọng hoặc di chuyển kém sẽ làm rong chậm
phát triển. Nước có nhiều chất bẩnkết hợp với nhiệt độ cao và hàm lượng chất
dinh dưỡng thấp, rong sẽ dần dần tàn lụi.
Gió tạo dòng chảy thích hợp, rong phát triển tốt. Gió mạnh làm hỏng công trình
trồng rong.

• Dinh dưỡng: Rong sụn hấp thu các hợp chất muối nitơ và phospho,
nhưng yêu cầu hàm lượng các muối nầy không cao. Phân chuồng, phân
hữu cơ, phân đạm, phân lân được bón để nuôi rong.
• Sinh trưởng: Rong có tốc độ tăng trưởng 10%/ngày, tốc độ tăng trọng
hằng tháng nhanh 8-10 lần.

Đặc tính môi trường ao nuôi cá


1. Tổng quan về môi trường nước
Môi trường nước (aquatic environment) là môi trường sống chủ yếu của các đối
tượng thủy sản. Tùy theo đặc điểm sinh học của từng đối tượng nuôi mà đì hỏi
môi trường nước khác nhau. Đối với thủy sản, môi trường nước thường được
chia thành 3 loại dựa theo nồng độ muối:
Môi trường nước mặn: S%o từ 30 - 40 %o và cũng là nồng độ muối của nước
biển. Thích hợp cho nuôi các loại cá, tôm biển và rong biển.
Môi trường nước lợ: S%o từ 0,5 - 30 %o, chủ yếu là vùng cửa sông ven biển
và có nguồn nước lợ từ trong nội đồng đổ ra và chịu ảnh hưởng của thủy triều và
nước mưa, nồng độ muối thay đổi theo mùa. Thích hợp cho các loài cá, tôm có
tính rộng muối.
Môi trường nước ngọt: S%o < 0.5%o, chủ yếu là vùng nội địa.
2. Bản chất vật lý của nước
2.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ có liên hệ mật thiết với cường độ bức xạ mặt trời và nhiệt độ không
khí, nhưng nhờ nước có khả năng giữ nhiệt tốt nên nhiệt độ nước không thay
đổi lớn như nhiệt độ không khí. Sự thay đổi nhiệt độ nước theo ngày và đêm tùy
thuộc vào tính chất của thủy vực. Nhiệt độ tùy thuộc vào khí hậu, nhưng bị ảnh
hưởng bởi năng lượng sinh ra trong quá trình oxy hóa các hợp chất vô cơ và
hữu cơ trong nước và nền đáy của thủy vực, nhưng năng lượng sinh ra từ quá
trình oxy hóa này không đáng kể so với năng lượng mặt trời cung cấp.
Sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ 3 - 4 oC có thể làm cho tôm, cá chết. Cá là
động vật máu lạnh nên nhiệt độ cơ thể luôn tương đương với nhiệt độ môi
trường nước. Sự thay đổi của nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến quá trình trao đổi
chất của tôm, cá. Trao đổi chất của cá tăng khi nhiệt độ gia tăng. Nhiều hoạt
động sinh học của cá sinh sản, nở trứng… luôn có sự liên quan chặt chẽ với sự
thay đổi của môi trường sống, nhưng sự ảnh hưởng có khác nhau theo loài.
Việc chọn lựa đối tượng nuôi phù hợp với nhiệt độ của từng vùng nhất định là
rất quan trọng vì mọi cố gắng nhân tạo để có nhiệt độ thích hợp cho cá thường
không mang lại hiệu quả kinh tế cao.
2.2. Độ trong suốt và vẩn đục
Độ trong suốt của nước là khả năng cho ánh sáng mặt trời xuyên qua, còn độ
vẫn đục khả năng ngăn cản ánh sáng xuyên qua. Hai tính chất này đối nghịch
nhau và tùy thuộc vào lượng vật chất hữu cơ lơ lửng, sự phát triển của tảo,
sóng gió, nước mưa đổ vào thủy vực. Những thủy vực khác nhau thì nguyên
nhân của độ vẫn đục cũng khác nhau. Độ trong suốt và độ vẩn đục có ảnh
hưởng đến cường độ quang hợp trong thủy vực. Với cá khi độ trong thấp, độ
vẩn đục cao cá khó hô hấp, giảm bắt mồi. Buck (1956) chia độ đục ao nuôi thủy
sản do các hạt phù sa theo 3 mức độ
Ao trong thì độ đục dưới 25 mg/l; ao vừa độ đục từ 25 - 100 mg/l và ao đục độ
đục trên 100 mg/l
2.3. Màu sắc
Nói chung nước thiên nhiên sạch thì không có màu, nhưng trên thực tế nước
thiên nhiên trong các thủy vực luôn có màu do sự hiện diện của các chất hữu cơ
hòa tan và không hòa tan, của tảo… Trong các ao nuôi cá, màu sắc của nước
chủ yếu do tảo tạo ra như màu nâu, màu xanh,…
3 Bản chất hóa học của nước
3.1. Oxy hòa tan
Oxy là yếu tố cần cho hô hấp của cá và được tính bằng mg/l hay ppm. Nhu cầu
oxy của các loài khác nhau cũng khác nhau. Ví dụ cá đen (cá lóc, trê,…) thì nhu
cầu oxy thấp hơn cá trắng ( mè vinh, trắm cỏ,…). Ngoài ra, trong môi trường
oxy còn cần cho quá trình phân hủy các vật chất hữu cơ có trong thủy vực (chất
thải của cá, thức ăn dư thừa,…)
Trong môi trường oxy có được nhờ khuyếch tán trực tiếp từ không khí; quang
hợp của thủy sinh vật và tác động cơ học (gió, sục khí,…) và mất đi qua hô hấp
của thủy sinh vật và phân hủy của chất hữu cơ. Trong ao nuôi vào ban ngày thì
quá trình quang hợp xảy ra nhanh hơn quá trình hô hấp nên hàm lượng oxy
tăng, cò ban đêm thì ngược lại.

Oxy từ:

• 0 - 0.3 mg/l à Cá con có thể sống nếu nhiệt độ thấp


• 0.3 - 1 mg/l à Tôm, cá có thể chết nếu nhiệt độ cao
• 1 - 5 mg/l à Tôm, cá sống nhưng phát triển chậm
• > 5 mg/l à Nồng độ lý tưởng đối với tôm, cá

3.2. Nồng độ muối


Nồng độ muối có nghĩa là tổng hợp các ion trong nước (Boyd 1990). Nồng độ
muối được tính là g/l. Nước biển có nồng muối là 34%o và nước ngọt là nhỏ
hơn 2%o. Dựa vào độ mặn có thể phân thành nhiều loại thủy vực khác nhau
như:

• Nước ngọt: < 0.5 %o


• Nước lợ nhẹ: 0.5 - 3 %o
• Nước lợ trung bình: 3 - 16.5 %o
• Nước lợ nhiều: 16.5 - 30 %o
• Nước biển (mặn): 30 - 40 %o

3.3. pH
pH là tổng nồng độ ion trong nước và pH= - log (H+ ). pH được chia thành 14
mức trong đó 7 là trung tính. pH từ 6.5 - 9 được xem là thích hợp cho các loài
cá. Trong ao nuôi pH thay đổi theo tính chất của đất và sự quang hợp của thực
vật thủy sinh. Khi quang hợp tăng (CO2 giảm -> H+ tăng) thì pH tăng và ngược
lại. Đối với tôm hay cá thì sự thay đổi của pH đều có ảnh hưởng chủ yếu là lên
quá trình hô hấp.
3.4. Độ cứng (Hardness) và độ kiềm ( Alkalinity)
Độ kiềm là hệ đệm trong môi trường nước làm cho pH ít dao động (hệ đệm
carbonat - CO32- và bicarbonate HCO32-. Alkalinity được đo bằng tổng lượng
mg CaCO3 /l. Trong nước tự nhiên thì tổng CaCO3 là 5 đến > 500 mg/l, nhưng ở
nước mặt thì khá cao thương >116 mg/l. Độ cứng là tổng hàm lượng ion
Calcium và Magnesium trong nước.
Alkalinity và hardness có thể được cá, tôm hấp thu trực tiếp qua mang và giúp
cho quá trình tạo vỏ, cá và tôm sinh trưởng tốt ở phạm vi rộng của 2 yếu tố này
từ 12 - 400 mg/l. Trong ao nuôi nếu hàm lượng 2 yếu tố này thấp có thể gây ra
hiện tượng mềm vỏ.
3.5. Amonia (NH3), Nitrite (NO2), Nitrate (NO3)
Trong môi trường các yếu tố này có được từ sự phân hủy các vật chất hữu cơ,
sản phẩm bài tiết của sinh vật, phân bón có chứa Protein trong thủy vực. Trong
môi trường thì amonia tồn tại ở dạng khí (NH3) và ion (NH4+) và tỷ lệ giữa 2
dạng này tùy thuộc vào nhiệt độ và pH của nước. Trong nước, các vi khuẩn có
thể giúp chuyển hóa từ NH3 (độc) sang NO2 (độc) sang NO3 (không độc). Hàm
lượng NH3) trong môi trường an tòan cho tôm, cá là <0.02 mg/l.
Cá (Các chất thải, thức ăn à Amonia à Nitrite à Nitrate à Sử dụng bởi thực vật
dư thừa, chất hữu cơ…) Nitrosmonas Nitrobacteris
3.6. Khí Hydrosulfure (H2S)
Thường tích tụ ở đáy ao và sinh ra từ quá trình phân hủy vật chất hữu cơ có
chứa lưu hùynh hay trong quá trình Sulfate hóa với sự tham gia của vi khuẩn
trong điều kiện hiếm khí.
Khí H2S là loại khí cực độc đối với các loài thủy sinh vật, tác hại của nó là liên
kết với sắt trong Hemoglobine trong máu, không có sắt thì hemoglobine không
có khả năng vận chuyển oxy cung cấp cho tế bào.
4. Bản chất sinh học của nước
Nước là một môi trường sống. Đã có rất nhiều giả thuyết cho rằng sự sống trên
quả địa cầu xuất phát từ môi trường nước, bởi lẽ trong nước chứa tất cả các
chất vô sinh và hữu sinh. Các chất vô sinh thương là các khí thiên nhiên hoặc là
các hợp chất mà chưa thể tham gia ngay vào các quá trình của vật chất sống
(N2). Chất hữu sinh (Biogen) là những chất vô cơ hay hữu cơ thường ở dạng
ion và có thể tham gia ngay vào các quá trình hoạt động của chất sống, thường
các Boigen có chứa nitrogen (NO2, NO3, NH4+) hoặc PO4, Fe2+ , Fe3+ …
Trong nước cũng luôn chứa các chất sống đó là sinh vật nhỏ hay lớn có bản
chất thực vật hay động vật như: vi khuẩn, thực vật và động vật nổi, động vật đáy
và cá loài tôm, cá, cua, nhuyễn thể, rong biển… có kích thước lớn. Tất cả các
chất sống và sinh vật trong nước tạo nên bản chất sinh học của nước.
Bản chất sinh học của nước còn được khẳng định qua quá trình biến đổi qua lại
của chính môi trường nước. Vật chất trong môi trường nước luôn ở trạng thái
động, các chất vô sinh sẽ bị tác động bởi các nhân tố như nhiệt độ, pH, hóa
học… để trở thành các chất hữu sinh từ đó chúng được sử dụng bởi các vi sinh
vật, rồi các vi sinh vật phân hủy các vật chất hữu cơ trong môi trường để tạo ra
sinh khối của chính mình và các chất vô cơ hay mạch hữu cơ. Các tảo sẽ hấp
thu các biogen trong nước để phát triển rồi bị ăn bởi các động vật cỡ lớn hơn
(động vật nổi, tôm, cá,…) sau đó các sinh vật chết đi để trả lại dinh dưỡng cho
môi trường.

Sản xuất giống


1.Trại sản xuất giống
1.1. Tiêu chuẩn chọn địa điểm

• Nguồn nước: Nước dùng cho trại sản xuất giống phải sạch, trong và ít
phù sa. Chất lượng nước tốt và ít biến động theo mùa trong năm. Tránh
nơi bị ảnh hưởng chất thải công nghiệp và nông nghiệp từ nội đồng đổ ra.
• Chất đất: Đất sét phù sa, hoặc sét có độ màu mỡ… nhìn chung là đất có
chất lượng tốt cho ao nuôi cá. Các loại đất cát, đá vôi, đất có đá nên
tránh.
• Giao thông: Dễ dàng về thông tin và đi lại.
• Nguồn năng lượng: Trại sản xuất giống không thể hoạt động nếu như
không có điện. Điện cần thiết để vận hành máy móc và các sinh hoạt của
trại. Do vậy, nên chọn địa điểm cần có điện thường xuyên.
• Địa hình: địa hình lý tưởng là nơi rộng rãi, nền đáy bằng phẳng, dễ dàng
tháo và cấp nước, không bị ảnh hưởng của lũ lụt, sóng gió…

1.2. Qui mô trại giống


Thiết kế trại giống phải dựa vào định mức năng suất dự kiến để quy hoạch qui
mô trại. Công suất dựa trên tỉ lệ ước lượng giữa ao nuôi vỗ, số lượng đàn cá bố
mẹ, công suất bể đẻ, hệ thống ấp và ao ương.
1.3. Thành phần chính của trại giống

• Ao ương cá bột: diện tích từ 100 - 1.000 m2, ao có hình chữ nhật
• Ao ương cá giống: diện tích từ 1.000 - 5.000 m2, ao có hình chữ nhật.
Đáy ao bằng phẳng hơi dốc về miệng cống.
• Ao cá bố mẹ: diện tích ao từ 1.000 - 2.000 m2, có dạng hình chữ nhật,
chiều rộng 20 - 30 cm, độ sâu từ 1 - 1,25 m.
• Bể lưu giữ: bể lưu giữ là bể để giữ cá bố mẹ đã chín mùi sinh dục trước
khi tiêm các kích dục tố. Phải có ít nhất 2 loại bể này để chứa cá đực và
cá cái riêng cho mỗi loài
• Bể đẻ: bể đẻ có hình tròn hoặc hình chữ nhật tuỳ loài cá đẻ. Bể đẻ dùng
để dùng để giữ cá sau khi tiêm kích dục tố để cá đẻ tự nhiên hay nhân
tạo.
• Hệ thống bình Weis: trong các trại giống kiểu bình Weis, hệ thống cấp
nước thường được lắp đặt bên dưới và đầu thoát ra ở phía trên, cò hình
trụ, hình phiểu, hình nón… Vật liệu làm bằng thuỷ tinh , nhựa, composit.
Mật độ ấp 100.000 trứng/lít.
• Hệ thống ấp bằng lưới phểu: giống như bình Weis nhưng đối với lưới
phểu phải đặt trong nước.

2.Sinh sản nhân tạo cá, tôm nước ngọt


Cá trước khi cho sinh sản được nuôi vỗ, tuyển chọn và phải đạt tiêu chuẩn sản
xuất giống. Cá nước ngọt được nghiên cứu sinh sản nhân tạo được chia thành
2 nhóm:
• Nhóm có thể cho sinh sản tự nhiên: hường, rô phi, rô đồng, chép, lóc, sặc
rằn, tai tượng, bống tượng, trê, tôm càng xanh…
• Nhóm được cho sinh sản bằng kích dục tố: cá tra, ba sa, hú, vồ đém, mè
vinh, he, trôi Ấn Độ, mè trắng, mè hoa, cá cóc…

3.Sinh sản nhân tạo cá, tôm nước lợ


Một số loài cá nước lợ được nghiên cứu sinh sản nhân tạo: mú, chẽm, măng,
cá ngựa, tôm sú, cua xanh… Các loài cá cho sinh sản nhân tạo cũng được nuôi
vỗ và tiêm các loại kích dục tố trước khi đẻ.

Thức ăn chế biến và thức ăn công nghiệp


1.Nhu cầu dinh dưỡng của cá tôm
Nhu cầu dinh dưỡng của các loài cá tôm nuôi nhìn chung gồm các thành phần
chủ yếu như: protein, lipid, hydrat carbon, khoáng vi lượng, vitamin.…

• Protein (chất đạm) là chất thiết yếu cho nhu cầu duy trì và phát triển cơ
thể của sinh vật. Đối với cá protein cần thiết cho hoạt động sống tùy thuộc
vào loài, các giai đoạn sinh trưởng, môi trường sống…
• Glucid (chất bột đường) là thành phần thức ăn chủ yếu và rất quan trọng
đối với cá ăn thực vật và ăn tạp. Glucid là nguồn cung cấp năng lượng
cho hoạt động của cá.
• Lipid (chất béo) cũng là nguồn năng lượng cung cấp cho hoạt động của
cá.
• Vitamin và khoáng: bộ xương và vỏ của tôm cá do nhiều khoáng tạo
thành. Trong đó chủ yếu là Ca và P. Vitamin là hợp chất hữu cơ quan
trọng tham gia vào hệ thống enzyme và biến dưỡng cho những nhiệm vụ
khác nhau giúp cơ thể kháng bệnh.

Tất cả các chất dinh dưỡng cấu thành trong thức ăn có mối tương tác có mối
tương tác rất chặt chẽ với nhau và được cơ thể sử dụng đồng thời với nhau. Do
đó các chất dinh dưỡng trên phải có đầy đủ lượng và chất trong thức ăn.

2. Sử dụng hợp lý các nguồn thức ăn trong quá trình nuôi thuỷ sản
2.1. Tận dụng và gây nuôi thức ăn tự nhiên
2.1.1. Nuôi tảo: có 3 phương pháp nuôi tảo là nuôi từng đợt, nuôi bán liên tục và
nuôi liên tục

• Nuôi từng đợt là nuôi tảo trong các bể nuôi có môi trường dinh dưỡng,
sau một vài ngày thì mật độ tảo lên đến cực đại hoặc gần cực đại thì thu
hoạch một lần. Đây là phương pháp nuôi khá phổ biến vì đơn giản và
thuận tiện, có thể xử lí dễ dàng khi môi trương nuôi có sự cố.
• Nuôi bán liên tục: phương pháp nuôi này nhằm mục đích kéo dài thời gian
nuôi bằng cách thu hoạch từng phần. Sau khi thu hoạch thì cấp thêm
nước và môi trường dinh dưỡng để cho tảo tiếp tục phát triển. Thông
thường thì nuôi bán liên tục không tính được thời gian nuôi kéo dài bao
lâu vì còn phụ thuộc vào chất lượng nước và các loài vật dữ sử dụng tảo
để làm thức ăn hoặc cạnh tranh không gian sống.
• Nuôi liên tục: là phương pháp nuôi tương đối hiện đại, giá thành cao và
qui trình nuôi tương đối chặt chẽ. Nguyên tắc nuôi là liên tục dẫn tảo nuôi
đến bể ấu trùng đồng thời cấp nước và môi trường dinh dưỡng vào bể
nuôi. Tốc độ dòng chảy của tảo lấy ra và nước có môi trương dinh dưỡng
cấp vào phải bằng nhau. Nuôi theo phương pháp này có thể kéo dài thời
gian nuôi từ 2 - 3 tháng.

2.1.2. Nuôi Rotifera (luân trùng): có 2 phương pháp nuôi Rotifera

• Nuôi từng đợt: bể nuôi có dung tích 1m3 , bơm nước tảo vào ½ với mật
độ tảo là 14.000.000 tế bào trên 1 ml. Mật độ nuôi luân trùng là 100
con/1ml. Trong ngày đầu tiên cho ăn bổ sung thêm 0,25g men bánh mì
cho 1 triệu luân trùng sau đó tăng lên 0,38 g cho ngày thứ hai. Mật đọ tảo
cũng được bổ sung như ngày đầu tiên. Luân trùng sẽ được thu hoạch vào
ngày thứ ba.
• Nuôi bán liên tục: luân trùng được nuôi theo phương pháp trên nhưng sau
2 ngày nuôi, thì hàng ngày thu hoạch ½ dung tích bể, bơm nước vào và
cho ăn, đến ngày thứ 5 thì thu hoạch toàn bộ.

2.1.3. Nuôi Moina


Moina có thể phát triển nhanh trong ao và hồ chứa, nhưng chúng cũng có thể
sống tạm thời ở ao và các mương rảnh. Moina trưởng thành và sinh sản sau 4-
5 ngày ở nhiệt độ 26oC. Moina được nuôi sinh khối và sử dụng dưới dạng ướp
đông để nuôi trên 60 loài cá nước ngọt và mặn. Moina có thể dùng để thay thế
một phần Artemia trong ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh. Moina có thể được
làm giàu chất dinh dưỡng bằng cách nuôi chúng trực tiếp bằng men bánh mì,
dầu gan cá hay dầu gan mực chuyển thành thể nhũ tương. Moina hấp thu (n-3)
HUFA tuy chậm hơn, nhưng cũng giống như luân trùng và nauplius của Artemia
và đạt đến nồng độ tối đa khoảng 40% sau thời gian ăn là 24 giờ.
2.1.4. Nuôi Artemia:
Hiện nay có 2 cách nuôi Artemia

• Nuôi trong bể ximăng với nước biển bình thường, phương pháp này đòi
hỏi chi phí sản xuất tương đối cao vì phải sử dụng nhiều thiết bị lọc nước,
máy cho ăn tự động, hệ thống nước chảy tuần hoàn.
• Nuôi Artemia trong ruộng muối, phương pháp này cũng cho năng suất
cao, nhưng ít tốn kém hơn. Tuy nhiên Artemia là thức ăn ưa thích của
nhiều loài cá, nếu nuôi trong ao nước biển bình thường sẽ có nhiều vật
dữ đối với chúng như các loài cá, động vật nổi mà chủ yếu là nhóm chân
mái chèo (Copepoda). Ngoài ra nuôi trong nước có độ muối thấp sẽ có sự
hiện diện của nhiều loài tảo độc (tảo lam), tảo đáy (lab lab) gây hại cho
Artemia. Đây là nguyên nhân chính giải thích tại sao phải nuôi Artemia
trong ruộng muối.

Nuôi Artemia có 2 mục đích khác nhau: nuôi để thu trứng phục vụ cho nuôi tôm
và nuôi để thu sinh khối phục vụ cho việc nuôi nhiều loài cá biển trưởng thành,
trong đó có cá ngựa. Nuôi để thu trứng đòi hỏi độ mặn cao (150 - 170 ppt) còn
nuôi thu sinh khối thì độ mặn tương đối thấp hơn (60 - 80%).

2.2. Sử dụng thức ăn nhân tạo


Thức ăn nhân tạo bao gồm những thức ăn đơn nguyên liệu hoặc thức ăn được
công thức hoá cho tôm cá ăn như một nguồn dưỡng chất. Một khẩu phần thức
ăn không hoàn chỉnh (khẩu phần bổ sung) nhằm bổ sung thức ăn tự nhiên trong
ao nuôi. Những khẩu phần này thường có mức năng lượng cao và hàm lượng
protein tương đối thấp, có hoặc không bổ sung protein và khoáng. Khẩu phần
hoàn chỉnh có tất cả những dưỡng chất cần thiết (protein, lipid, vitamin và
khoáng)với lượng đầy đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của loài. Khẩu phần này
được cung cấp như nguồn dưỡng chất chính trong hệ thống nuôi. Những thức
ăn đơn nguyên liệu thường là đầy đủ cho dinh dưỡng bổ sung trong trong hệ
thống nuôi quảng canh, những khẩu phần này được công thức hoá chất lượng
cao là cần thiết cho hệ thống bán thâm canh và thâm canh.

Các mô hình nuôi

Môi trường nước ngọt


1. Ao
Ao nuôi phổ biến và gắn liền với gia đình. Thường mỗi gia đình đều có 1 hoặc
vài ao. Ao nuôi cá có thể hiểu là vùng nước nhỏ và có độ sâu không lớn. Về tập
quán cá nuôi ao đã phổ biến nhiều nơi ở ĐBSCL, nhưng nhìn chung do hiểu
biết kỹ thuật cò hạn chế nên mức độ phát triển chưa đồng đều, năng suất không
đều và chưa ổn định. Tuy vậy năng suất cá nuôi ao cũng góp một phần đáng kể
về sản lượng cá nuôi hàng năm. Trong năm 2001, trong số trên 600.000 tấn
thủy sản nước ngọt, nuôi cá ao chiếm một lượng khiêm tốn khoảng 200.000 tấn,
riêng sản lượng tôm càng xanh nuôi chỉ vào khoảng 500 tấn.
* Kỹ thuật nuôi cá ao

• Giống loài thả nuôi: tra, sặc, trê phi, tai tượng, lóc, rô đồng, tai tượng,…
• Cỡ cá thả và mật độ thả: với mỗi loài khác nhau cỡ cá thả khác nhau. Đa
số các loài cá thả có cỡ chiều dài 4 - 6 cm, cá tra 10 - 12 cm. Mật độ cũng
tùy thuộc vào từng loài khác nhau, với nuôi đơn đa số thả với mật độ 3 - 5
con/m2. Ao nuôi thâm canh mật độ nuôi cao hơn
• Thức ăn cho cá: bao gồm thức ăn tự nhiên trong ao như sinh vật phù du,
sinh vật đáy và ăn thức ăn chế biến, thức ăn viên hay các phụ phẩm nông
nghiệp, chăn nuôi,…
• Cách cho ăn và lượng thức ăn: đối với thức ăn tinh cho các loài cá ăn
trực tiếp, được chế biến từ các sản phẩm hoặc phụ phẩm nông nghiệp,
chăn nuôi,… lượng cho ăn từ 5 - 10% trọng lượng đàn cá mỗi ngày. Tùy
theo đặc tính của từng loài cá, có thể cho ăn trong sàn đặt ở trong ao
hoặc rải trên mặt ao. Nên cho ăn mỗi ngày 1 - 2 lần, định vị trí và thời gian
cố định.
• Chăm sóc quản lý ao:

Theo dõi và điều chỉnh mực nước trong ao hợp lý.


Tăng giảm lượng thức ăn cho hợp lý.
Theo dõi màu nước, mùi nước ao để điều chỉnh và thay nước kịp thời.
Nhanh chóng phát hiện các dấu hiệu bệnh của cá để xử lý kịp thời.

• Thu hoạch: Tuỳ theo từng loài nuôi, khi đạt kích cỡ thương phẩm và có
giá trị trên thị trường thì thu hoạch. Có thể thu tỉa một lần hoặc thu toàn
bộ.

2. Lồng bè
Nuôi cá lồng hay bè là kỹ thuật nuôi tăng sản mang tính công nghiệp. Cá được
nuôi rên bè đặt trên các dòng sông nước chảy liên tục, do đó cung cấp đầy đủ
Oxy cho nhu cầu sống và phát triển của cá, vì vậy có thể nuôi với mật độ cao.
Bè thường có kích thước lớn và nuôi với số lượng nhiều.Lồng có kích thước
nhỏ hơn bè nhiều lần, chủ yếu là nuôi các loài có giá trị kinh tế và bán giá cao.
Nuôi cá bè có những đặc tính ưu việt sau:
Tận dụng được mặt nước không tốn đất đào ao, xây trại nuôi.
Năng xuất cao, sản xuất mang tính công nghiệp.
Dễ kiểm soát và thu hoạch, đảm bảo an toàn, tránh thất thoát, hao hụt, ngăn
chặn được dịch hại của cá.Cá tăng trưởng nhanh, rút ngắn được thời gian nuôi.
Giá trị ngày công lao động rất cao, khoảng 250 - 1000 kg cá/ người/tháng.
Ngoài ra ĐBSCL có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngề nuôi cá lồng, bè:
Thuận lợi về điều kiện thủy lý hoá của sông Cửu Long.
Thuận lợi vềư nguồn thức ăn cho cá nuôi: htực phẩm trồng trọt , chăn nuôi
phong phú, đa dạng, gần các xí ngiệp công nghiệp thực phẩm, chế biến đông
lạnh.
Nhiều đối tượng cá nuôi thích hợp cho nuôi cá bè.

T Kích thước một số loại bè


Loài Kích thước Dài (m) x rộng Lượng cá thả
Loại cá thả
cá thả (m) x cao (m) (con)
30.000

15 x 5 x 2,5 12 x 4,5 x 2,5 10 20.000 Tra, Hú, lóc bông Basa
truyền
x 4 x 2 8 x 3,5 x 2 15.000 Basa, Hú He Tra, chày
thống
12.000

50.000
hiện 12 x 15 x 3 20 x 10 x 4,5 Basa, cá Hú, tra Basa
100.000
nay
3 x 2 x 1,5 4 x 3 x 1,75 6 x 4 1.500 3.000 Cá bống tượng, cá
Lồng
x2 4.000 chình

3. Các mô hình nuôi kết hợp


* Nuôi cá trong ruộng lúa

• Lợi ích của nuôi cá trong ruộng lúa:


o Kết hợp đa dạng hoá sản phẩm trên ruộng lúa
o Cá ăn sâu rầy, hạn chế dịch bệnh của lúa, hạn chế dùng thuốc trừ
sâu. đảm bảo cân bằng hệ sinh thái giữa các quần thể sinh vật
trong ruộng. Đồng thời tạo sản phẩm lúa cá sạch, tạo ra môi
trường lành mạnh cho người sản xuất và an toàn cho người sử
dụng.
o Mang lại hiệu quả kinh tế cao ở những vùng đất trũng, tăng thu
nhập cho người nông dân, tăng nguồn thực phẩm cho xã hội.
o Giải quyết một phần lao động nhàn rỗi
• Kỹ thuật nuôi cá trong ruộng lúa
o Thiết kế ruộng nuôi cá: khi chọn khu ruộng để nuôi cá kết hợp, cần
chú ý những điều kiện sau đây:
ƒ Gần kênh rạch tiện cấp thoát nước.
ƒ Gần nhà để có điều kiện chăm sóc bảo vệ, chống lũ, thu
hoạch để tiết kiệm chi phí sản xuất.
ƒ Tận dụng diện tích bờ để phát triển thêm cây màu phục vụ
cho chăn nuôi, nuôi cá và đời sống gia đình.
ƒ Diện tích thì tuỳ theo điều kiện của nông hộ, kể cả điều kiện
quản lí.

Ngoài ra khi tiến hành xây dựng 1 ruộng nuôi cá cần phải tiến hành các bước
sau:
• Đắp bờ bao: phải ngăn được lũ, giữ nước, giữ không cho cá ra ngoài,
chiều rộng bờ từ 1,5 - 2 m, chiều cao phải cao hơn mặt nước ao ít nhất từ
20 - 30 cm.
• Đào mương trong ruộng: kích thước mương có chiều rộng 2,5 - 4 m (trên
mặt) và dưới đáy 1,5 - 2,5, chiều sâu 0,8 - 1,2 m. Mương bao có thể thiết
kế nhiều dạng khác nhau như mương bao quanh, mương xương cá,
mương chữ thập…
• Cống: tuỳ diện tích ruộng mà có thể lắp một hay hai cống. Cống cấp đặt
cao hơn cống thoát. Cống để điều tiết nước cấp và thoát cho khu ruộng
khi sạ, cấy, khi sử dụng thuốc trừ sâu hoặc khi thu hoạch. Mực nước
trong ruộng được nâng dần theo sự phát triển của cây lúa, mực nước ở
mương nuôi cá từ 0,6 - 1 m.

• Thời vụ nuôi: có thể nuôi quanh năm, nhung để tránh được mùa lũ nên
thả sớm(tháng 3) để có thể thu hoạch trước khi lũ về (tháng 9). Sau đó có
thể thả nuôi cho vụ tiếp theo để có thể thu hoạch vào tháng 2 năm sau.
Do thời gian thu hoạch ngắn hơn nuôi cá, ta thả lưu đàn cá lại khi có gieo
cấy vụ mới. Cá có thể dồn xuống mương trú theo lịch sinh trưởng của cây
lúa.
• Chuẩn bị ruộng để thả cá:
o Tháo cạn nước mương bao, bắt hết cá tạp, cá dữ, địch hại cá.
o Làm sạch cỏ, san bằng đáy mương.
o Rải vôi bột đáy và bờ với liều lượng 7 - 10 kg/100 m2
o Bón lót phân hữu cơ 10 - 15 kg/100 m2.
• Cá thả nuôi: các loài cá chọn nuôi trong ruộng là Mè vinh, rô phi, sặc rằn,
chép, mè trắng, rô đồng,… Mật độ nuôi từ 1 - 2 con/m2, nế ruộng nuôi cá
có chăm sóc và cho ăn thêm thì có thể tăng hơn. Kích cỡ cá nuôi phải
đều, khỏe mạnh, không quá nhỏ (2 - 5g/con). Tỷ lệ ghép có thể chọn loài
cá chính với số lượng và tỷ lệ cao (40 - 50%) ghép với các loài cá khác
không cạnh tranh thức ăn với loài cá chính.
• Quản lí và chăm sóc
o Thức ăn nuôi trong ruộng chủ yếu là thức ăn tự nhiên như mùn bả
hữu cơ, động vật đáy, sâu bọ, côn trùng,….
o Trong thời gian mới thả cá còn ở dưới mương (15 - 20 ngày) cần
cho ăn bổ sung và bón thêm phân hữu cơ để gây nuôi thức ăn tự
nhiên cho cá. thức ăn bổ sung bằng 5 - 7 % trọng lượng cá nuôi.
Bón phân hữu cơ phải căn cứ vaomfu nước của mương để điều
chỉnh cho phù hợp.
o Khi sử dụng thuốc trừ sâu phải rút cạn nước trên ruộng dồn cá
xuống mương gĩư cá khoảng 5 -7 ngày cho giảm bớt độc lực của
thuốc mới đưa cá trở lại. Đặc biệt không dùng các loại thuốc có
tính độc hại cho cá.
o Khi thu hoach cá và trữ cá xuống mương cần tiến hành nhanh để
đưa cá trở lại ruộng vì cá lúc này đã lớn. Nếu sau vụ hè thu không
tiến hành làm vụ ba thì có thể bón thêm phân vô cơ hoặc hữu cơ
cho ruộng để tăng cường lúa chét phát triển và tăng thêm thức ăn
tự nhiên cho cá.
o Hàng ngày phải xem xét mực nước và cống bộng để kịp thời xử lí.
Ngăn ngừa các địch hại cho cá như cua, rắn, ếch, nhái…
• Thu hoạch cá: tùy tình hình tăng trưởng của cá và điều kiện thị trường, ta
có thể thu tỉa hoặc thu gọn một lần hoặc giữ nuôi tiếp những cá chưa đủ
cỡ.

* Nuôi cá ruộng vùng ngập lũ


Những ruộng nằm trong khu vực bị ngập lũ, có thể kết hợp nuôi cá trong mùa
ngập nước. Những yếu tố quan trọng nhất để ruộng có thể nuôi cá được: bờ
phải chắc chắn không có lỗ mọi, hang hóc thông với khu vực ruộng khác xung
quanh và phải có lưới bao xung quanh ruộng.

• Sửa sang cải tạo diện tích nuôi cá:


o Đắp và sửa sang lại bờ, đặt cống và chắn lưới bên trong và ngoài
cống.
o Phát dọn sạch cỏ quanh bờ
o Sau vụ thu hoạch lúa để nguyên gốc rạ hoặc cắt để tại chỗ.
o Tháo cạn nước ruộng, diệt và bắt hết địch hại, cá dữ…
o Có thể đào một ao nhỏ ở một cạnh của ruộng gần nơi ở với diện
tích khoảng 200 -500 m2 để nuôi chứa cá trước khi thả lên ruộng
hoặc goòm cá khi thu hoạch.
• Thời vụ và giống cá thả nuôi: nuôi cá vào mùa ngập nước, có thể thả cá
giống vào ao chứa để nuôi trước một tháng. Thời gian ngập nước càng
dài thì có điều kiện cho cá tăng trưởng đạt cỡ thương phẩm.
o Giống cá thả: áp dụng biện pháp nuôi ghép những loài dễ nuôi,
tăng trưởng nhanh, cỡ thu hoạch không cần quá lớn, phù hợp với
nhu cầu thị trường (4 - 5 loài).
o Mật độ nuôi: 1 - 3 con/m2, cỡ cá thả từ 3 - 5 cm.
o Tỷ lệ ghép: Căn cứ đặc tính dinh dưỡng và sinh trưởng của loái để
định tỷ lệ thích hợp

Ví dụ: ghép 5 loài

• Cá rô phi là chính: 40%


• Mè vinh : 20%
• Chép : 10%
• Mè trắng : 10%
• Trôi Ấn Độ : 20%

• Thức ăn và chăm sóc: ngoài thức ăn tự nhiên trong ruộng như rơm, rạ
mục, sinh vật trong nước, trong đáy ruộng ta có thể cho ăn thêm nếu có
điều kiện
o Nếu có nguồn phân hữu cơ (heo, trâu, gà, cút…) đưa trực tiếp
xuống ruộng từ 10 - 15 kg/ngày/ha ruộng. Chú ý quan sát tình hình
sử dụng của cá để điều chỉnh cho phù hợp.
o Có điều kiện thì cho ăn phụ phẩm nông nghiệp, phụ phẩm lò mổ và
rau, củ, quả…
o Kiểm tra quản lí bờ, lưới, cống, bộng thường xuyên và chặt chẽ đề
phòng cua làm rách lưới, gió làm đỗ ngã hoặc ghe thuyền qua lại
làm hư hại.
• Thu hoạch: thu hoạch một lần khi hết lũ.

* Nuôi cá kết hợp VAC


Ở các tỉnh ĐBSCL thông thường mỗi gia đình đều có ao và chỉ nuôi cá theo
hình thức ao chỉ nuôi cá (A), ao nuôi cá kết hợp với ruộng lúa (A- R) và ao nuôi
kết hợp với trồng trọt chăn nuôi (VAC). Nuôi cá trong hệ thống VAC như sau:

• Xây dựng ao nuôi cá: phải đảm bảo một số yêu cầu
o Cấp thoát nước dễ dàng, thuận tiện, có cống cấp thoát nước.
o Không bị tàn cây che rợp.
o Bờ phải cao, không rò rỉ, sạt lở, đáy ao có lớp bùn mỏng.

Những vùng bị ảnh hưởng phèn, phải tùy theo địa tầng và tầng sinh phèn để
chọn vị trí và đào độ sâu thích hợp. Sau khi đào ao, phải cải tạo đáy ao bằng
nguồn phân hữu cơ cho đến khi không còn bị xì phèn mới nuôi cá được.

• Chọn loài cá nuôi và cơ cấu đàn cá nuôi ghép


o Chọn loài cá nuôi phù hợp: có thể chọn những loài cá có nguồn
gốc địa phương như Mè vinh, tra, chép, rô đồng… hay một số loài
cá ngoài địa phương và nhập nội như Mè trắng, trê phi, trê lai, rô
phi…
o Xác địn mật độ thả nuôi: phải căn cứ vào đặc tính sinh học của
từng loài, chủ yếu là tính ăn, khả năng chịu đựng và nguồn thức ăn
để chọn mật độ thích hợp. Ao có nguồn thức ăn chủ động thì thả
dày hơn ao không chủ động về thức ăn. Loài chịu đựng tốt điều
kiện khắc nghiệt thì thả mật độ cao hơn.
o Xác định tỷ lệ ghép: căn cứ vào đặc tính sinh học từng loài để bố trí
tỷ lệ nuôi hợp lý. Trên nguyên tắc không tranh mồi lẫn nhau và
không làm xấu môi trường nước. Loài nào tận dụng tốt nhiều loại
thức ăn thì thả số lượng nhiều hơn.
• Nguồn thức ăn cho mô hình VAC
o Các loại thức ăn: phân gia súc, gia cầm, thức ăn thực vật (rau
muống, bèo tấm, cỏ non, bắp non..), phụ phẩm nông nghiệp (tấm,
cám, hèm bia rượu…), các loại khác (côn trùng, ốc, hến, cá vụn..).
o Cách tính lượng thức ăn (theo kinh nghiệm và một số tài liệu
nghiên cứu)
ƒ Phân heo tươi (cho cá tra, rô phi, mè vinh, chép): 10 -12
kg/1kg cá
ƒ Phân gà, cút : 7 - 8 kg/1kg cá
ƒ Rau muống (cho cá trắm cỏ) : 30 kg/1kg cá
ƒ Rau lang, cải (cho cá trắm cỏ) : 25 kg/1kg cá
ƒ Bèo tấm (cho cá tra và mè vinh) : 40 - 50 kg/1kg cá

Trong thực tế vòng đời 1 heo nuôi 4 - 5 tháng có thể cho một lượng phân tươi
400 - 500 kg. Do đó nuôi cá bằng phân heo cho 1ao có diện tích 500 m2 chỉ cầ
một lượng phân của 3- 4 con heo. Ta có thể thu hoạch 150 - 150 kg cá thịt các
loại (sau 1 vòng nuôi heo).
Cách giải quyết thức ăn kết hợp

• Kết hợp heo - cá - rau (bèo tấm): cứ 8 - 10 kg phân heo tươi + 15 - 20 kg


bèo tấm có thể nuôi đủ lượng tăng trọng 1 kg cá.
• Kết hợp vịt - cá - heo (bèo): vịt cung cấp phân, thức ăn dư thừa vừa sục
nước cũng như vườn rau vừa cung cấp thức ăn cho vịt, một vịt đẻ nuôi
quanh năm có thể cho 1 lượng chất thải tăng trọng 1,5 kg cá.

4. Bãi quây và đăng quầng.

Môi trường nước lợ

1. Nuôi ao
Cá chẽm và cá mú được nuôi trong ao ở Kiên Giang, khu vực Bà Rịa - Vũng
Tàu. Ao nuôi có diện tích từ 0,5 ha trở lên. Ao được chuẩn bị theo qui trình
chung của kỹ thuật nuôi cá tăng sản. Độ sâu 1,2 -2m. Nguồn giống được vớt
ngoài tự nhiên hay nhập từ Đài Loan, Hồng Kông. Cỡ cá thả từ 8 -10 cm. Thức
ăn cho cá chẽm và cá mú là cá nhỏ tươi xay nát. Thời gian nuôi 1 năm trở lên.
2. Lồng bè
Lồng nuôi cá có kích thước 6x6x3m (bà Rịa - Vũng Tàu) hay 4x4x2,5m (Kiên
Giang). Khung lồng bằng gỗ tốt và chắc, xung quanh bao lưới PVC, mắt lưới 2a
=1-2cm. Bè có hệ thống phao giữ nổi và neo chắc chắn. Bè có thể liên kết với
nhiều bè khác.
Giống loài nuôi: các loài nuôi chính là cá mú (mú dẹt, mú đỏ, mú đen…), cá
bớp, cá chim. Nguồn giống cá được vớt ngoài tự nhiên hay nhập từ Đài Loan,
Hồng Kông. Thức ăn chủ yếu là cá tươi. Thời vụ nuôi quanh năm, thời gian nuôi
từ 1 năm trở lên hay kéo dài từ 2-3 năm.
Chương 9: Bệnh Học Và Một Số Bệnh Thường Xảy Ra
Trên Tôm Cá Nuôi

Bệnh học
1 Khái niệm về bệnh học
Bệnh là một quá trình suy yếu nhất định của cơ thể biểu hiện bằng các triệu
chứng gây ảnh hưởng cục bộ hay toàn cơ thể. Hoặc có thể nói bệnh là kết quả
của một tổ hợp giữa ký chủ, các tác nhân gây bệnh và môi trường. Bệnh có thể
truyền từ ký chủ nầy sang ký chủ khác hoặc có thể không.

2 Các loại tác nhân gây bệnh

• Ký sinh trùng thường là những tác nhân gây bệnh cơ hội, liên quan đến
điều kiện môi trường.
• Nấm là tác nhân gây bệnh đầu tiên. Nấm hiện diện trong tất cả các loài
thuỷ sản nuôi, đặc biệt khi gặp stress hay các vết thương, nấm gây bệnh
trên ký chủ.
• Vi khuẩn là tác nhân gây bệnh thứ cấp hay tác nhân gây bệnh cơ hội.
• Virus là tác nhân chính gây bệnh làm tổn thất cho tôm cá nuôi.
• Các tác yếu tố môi trường: nhiệt độ, pH, các kim loại nặng, các muối hoà
tan, các khí hoà tan.
• Thiếu dinh dưỡng: thiếu các acid amin, các khoáng vi lượng, các
vitamin…

3. Điều kiện phát sinh bệnh và quá trình truyền lây

• Điều kiện phát sinh bệnh: Mỗi cá thể sống đều có quan hệ mật thiết với
các yếu tố trong môi trường chúng sống. Do đó tác nhân gây bệnh chỉ
phát huy được tác dụng khi có điều kiện thuận lợi cho chúng (mầm bệnh)
phát triển nhưng lại bất lợi cho ký chủ.

Các điều kiện để phát sinh bệnh:

• Tính mẫn cảm của ký chủ: tác nhân gây bệnh chỉ phát huy được tác dụng
khi có động vật cảm thụ mẫn cảm với tác nhân gây bệnh đó và đồng thời
cá thể đó (ký chủ) suy yếu.
• Độc lực của tác nhân gây bệnh: mầm bệnh phải có đủ độc lực để gây
bệnh.
• Điều kiện bất lợi của môi trường: môi trường sống của động vật thủy sản
chủ yếu là nước. Nếu trong môi trường nước có nhiều tác nhân gây bệnh,
nhiều khí độc, ion kim loại, nhiệt độ, pH không thích hợp … cho động vật
thuỷ sản sống và phát triển thì bệnh dễ phát sinh.
(Mối tương quan giữa ký chủ - Mầm bệnh - Môi trường và sự phát sinh bệnh)
(Hình)
4. Các giải pháp phòng trị bệnh
4.1. Phòng bệnh:Biện pháp tổng hợp:

• Chọn con giống có chất lượng tốt, sạch bệnh.


• Cải tạo, quản lý tốt môi trường nuôi.
• Quản lý tốt sức khoẻ động vật thuỷ sản nuôi.
• Dùng vaccine chủng ngừa hoặc các chế phẩm sinh học.
• Diệt tác nhân gây bệnh.

4.2. Trị bệnh: Các giải pháp trị bệnh:

• Xử lý môi trường nuôi: thay nước, dùng hoá chất xử lý môi trường để diệt
tác nhân gây bệnh.
• Tăng cường dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của cá, tôm.
• Dùng thuốc hoặc hoá chất để diệt mầm bệnh trong cơ thể sinh vật.

4.3. Các phương pháp phòng trị bệnh:

• Phương pháp tắm: dùng thuốc với nồng độ tương đối cao tắm cho động
vật thuỷ sản theo thời gian qui định (tương ứng với nồng độ thuốc).
• Phương pháp ngâm (treo túi thuốc): thuốc được dùng với nồng độ thấp và
thời gian kéo dài.
• Phương pháp tiêm: dùng thuốc tiêm trực tiếp vào cơ thể cá (áp dụng cho
cá quí hiếm, cá bố mẹ, cá có giá trị kinh tế cao).
• Phương pháp cho ăn: dùng thuốc hoặc các chế phẩm trộn vào thức ăn.
Phương pháp nầy thường kém hiệu quả so với một số bệnh, vì cá thể
mang bệnh hoạt động kém, bắt mồi kém hoặc đôi khi bỏ ăn, nên kết quả
điều trị thường không cao.

4.4. Nguyên tắc dùng thuốc kháng sinh

• Chỉ dùng kháng sinh đối với bệnh nhiễm khuẩn.


• Xác định vi khuẩn gì gây bệnh.
• Dùng kháng sinh đồ để xác định loại kháng sinh nào cần dùng.
• Thuốc tới được vị trí (cơ quan) bị bệnh: động vật thủy sản có hai cách
dùng thuốc là ngâm (tắm) hoặc uống (trộn vào thức ăn). Vì vậy phải quan
tâm đến độ pH có liên quan đến hoạt tính của thuốc.
• Chuyển hóa thuốc : phần lớn được chuyển hóa ở gan (do hiện tượng
hydroxy hóa, acetyl hóa …).
o Mất hoạt tính của thuốc -Ampicillin, Colistin (bị chuyển hóa một
nửa…)
o Tăng hoạt tính như nalidicic acid hay
o Giữ nguyên hoạt tính của thuốc như Streptomycine, Kanamycine,
Ciprofloxacine …
• Khả năng sinh học của thuốc (hiệu quả trị liệu của thuốc): tập trung ở cơ
quan bị bệnh, chuyển hóa chậm, thời gian bán hủy dài, bài xuất chậm…
• Độc tính (quan tâm đến những loại thuốc có ảnh hưởng đến sức khỏe
người tiêu thụ sản phẩm)
o Liều thuốc dùng thường tính theo thể trọng - trọng lượng cơ thể
(kg/ngày)-
o Nồng độ ức chế tối thiểu (Minimum inhibitive concentration: MIC)
o Thời gian bán hủy của thuốc.
• Thời gian dùng thuốc: ngưng dùng thuốc 3 ngày sau khi các dấu hiệu
bệnh biến mất.
• Kết hợp thuốc: tránh kết hợp giữa các thuốc sẽ chuyển hóa thành những
hợp chất trơ (không còn hoạt tính thuốc) như
o Nhóm Penicillin kết hợp với Kanamycine, Gentamycine làm mất
khả năng kháng khuẩn do tạo phức chất với Penicilline.
o Nhóm Fluoroquinolon kết hợp với Erythromycine, Lincomycine,
Tetracycline sẽ có tác dụng đối kháng …
• Chi phí điều trị: cân nhắc để xem xét hiệu quả kinh tế của quá trình nuôi.

Các bệnh thường gặp trên tôm cá nuôi và biện pháp phòng trị

Bệnh thường gặp trên cá

Bệnh thường gặp trên cá nuôi nước ngọt


1. Bệnh ký sinh do nấm (Fungi):
*Nấm thuỷ mi:
Tác nhân gây bệnh:
nấm thuỷ mi gây bệnh cho cá có nhiều tên gọi khác nhau: nấm nước, nấm da,
mốc nước. Nấm thuỷ mi ký sinh cơ thể cá và trứng cá có nhiều giống.
Giống Saprolenia; Aphanomyces và Achlya
Họ: Saproleniaceae
Bộ: Saproleniales
Lớp: Phycomycetes
Ngành: Fungi.
Nấm thuỷ mi dạng sợi, bám sâu vào các tổ chức da, cơ, trứng cá. Chiều dài từ
3- 5mm. Bệnh có thể gây mất các vi trên thân cá. Mắt thường có thể nhìn thấy
một đám màu trắng như bông bám trên da, trứng cá. Nấm thuỷ mi bám trên cá
gây chết sau 12 -24 giờ.
Chẩn đoán:dấu hiệu bệnh lý có thể chẩn đoán sơ bộ qua quan sát bằng mắt
thường. Sau đó lấy tiêu bản kiểm tra dưới kính hiển vi mới khẳng định chính
xác.
Phương pháp phòng trị bệnh:

o Phòng bệnh: Tẩy dọn ao và thả giống cá nuôi đúng qui trình kỹ
thuật. Quản lý môi trường nuôi chặt chẽ theo đúng qui trình kỹ
thuật.
o Điều trị bệnh: Dùng hoá chất để điều trị như sau:
ƒ Blue Methylen 2-3ppm, Malachite green 0,15-0,2ppm cách 2
ngày vãi xuống thuỷ vực một lần.
ƒ Dùng Sulfamid, Furazoline hoặc một số chất kháng sinh
(không bị cấm thuộc danh mục của Bộ Thuỷ Sản ban hành)
cho vào thức ăn cho cá ăn.
ƒ Đối với trứng cá dùng Clorure natri 2-3%, Formaline 1/500 -
1/1000, Blue Methylene 2-3ppm, Malachite green 0,15-
0,2ppm tắm cho trứng cá trong vòng 15 -20 phút, khoảng
cách sau vài giờ thì lập lại.

2. Bệnh nấm mang:

• Tác nhân gây bệnh:Thường gặp hai loài: Brachiomyces sanguinis và


Brachiomyces demigrans

Giống: Brachiomyces
Họ: Saproleniaceae
Bộ: Saproleniales
Ngành: Fungi.

Nấm mang Brachiomyces hình dạng sợi, chủ yếu ký sinh trên cá mè, cá trôi.
Lúc xâm nhập vào mang cá, sợi nấm đi theo mạch máu hoặc đâm xuyên xương
sụn phát triển ngang dọc đan chéo vào nhau chứa đầy trong tơ tia mang của cá.
Chẩn đoán :Cá nhiễm bệnh có các tia mang cá sưng to, niêm dịch dính lại, tụ
máu và xuất huyết. Các tổ chức mang bị phá hoại, cá hô hấp khó khăn và nổi
đầu lên mặt nước hay tập trung nơi có dòng nước chảy. Cá bỏ ăn, bơi lội không
bình thường. Khi bệnh phát triển nặng, các sợi nấm mang và bào tử di chuyển
đến tim và một số tổ chức cơ quan nội tạng. Bệnh thường ở dạng cấp tính, nếu
ở môi trường thích hợp, nấm phát triển nhanh gây chết cá hàng loạt sau 1-2
ngày.

• Phương pháp phòng trị bệnh:


Phòng bệnh: nuôi đúng qui trình kỹ thuật Dùng Clorure Calci để dọn tẩy ao
trước khi thả cá. Mỗi tháng dùng CaO (vôi sống) 20ppm hay Ca(OCl)2 1ppm
bón vài lần để phòng bệnh.

• Điều trị: dùng vôi sống CaO phun trực tiếp xuống ao với nồng độ 200ppm.

3. Bệnh do ký sinh trùng

• Khái niệm về bệnh ký sinh trùng: Sinh vật sống ký sinh là sinh vật sống
bên trong hay bên ngoài một sinh vật khác để lấy chất dinh dưỡng hay lấy
dịch thể, tế bào, tổ chức của sinh vật đó làm thức ăn để duy trì sự sống
của chúng. Điều nầy gây tác hại cho vật chủ. Động vật sống ký sinh gọi là
ký sinh trùng. Sinh vật bị các sinh vật khác ký sinh gọi là ký chủ.
• Phương thức ký sinh : ký sinh giai đoạn, ký sinh suốt đời.
• Vị trí ký sinh :
o Ngoại ký sinh: ký sinh trùng ký sinh ở da, xoang miệng, xoang mũi,
các vi…
o Nội ký sinh: ký sinh trong cơ quan nội tạng, hốc mắt, cơ, máu…
• Các loại ký chủ: ký chủ cuối cùng, ký chủ trung gian, ký chủ lưu giữ.
• Phương thức cảm nhiễm của ký sinh trùng:
o Cảm nhiễm qua miệng: theo nước, theo thức ăn vào ruột gây bệnh
cá.
o Cảm nhiễm qua da: chủ động, thụ động
• Mối quan hệ giữa ký sinh trùng, ký chủ và điều kiện môi trường:

Tác hại : gây tổn thương các tổ chức, tế bào.

• Gây tắc ruột và chèn các tổ chức


• Lấy chất dinh dưỡng của ký chủ
• Gây độc cho ký chủ, môi giới gây bệnh.

Phản ứng của ký chủ:


Tế bào các tổ chức của ký chủ có hiện tương viêm loét và tiết ra dịch thể.
Tác dụng của điều kiện môi trường đối với ký sinh trùng:
Ảnh hưởng bởi nồng độ muối, nhiệt độ và thủy vực làm hạn chế hay phát triển
ký sinh trùng.
a. Ngành nguyên sinh động vật - Protozoa
Đặc điểm: Cơ thể là một tế bào duy nhất không có vách ngăn. Đời sống ký sinh
hay hoại sinh. Có khả năng sinh sản và phát triển trong cơ thể ký chủ.
Tác nhân gây bệnh: Bệnh do Trùng Lông Ciliophora.
Giống Chilodonella.
Họ Chilodonellidae
Bộ Hypostomastida
Lớp Chlamydodontidae
Cơ thể hình trứng, mép bên phải lưng có hàng lông cứng. Loài C. hexasticha
không tồn tại ngoài cơ thể ký chủ quá 12 - 24 giờ. Loài C. piscicola được phát
hiện ký sinh trên cá cùng với các loài ký sinh trùng khác nấm.
Dấu hiệu bệnh lý: Ký sinh ở da và mang cá. Kích thích tiết nhiều chất nhờn
đồng thời tơ mang bị phá hủy, rời ra, ảnh hưởng đến hô hấp của cá.
Phân bố bệnh: Hai loài ký sinh trùng nầy thường gặp nhiều trên các loài cá
nước ngọt: trắm, chép, mè, rô phi, trê phi, ếch, ba ba … Trên cá nước mặn: cá
mú (cá song).
Phòng trị: áp dụng phương pháp phòng trị tổng hợp: ngâm cá trong CuSO4 3-
5ppm/10-15 phút.

• Bệnh bào tử trùng Myxoboliosis

Họ Myxolidae
Bộ Myxosporidia
Lớp Sporozoa
Ngành Protozoa

• Tác nhân gây bệnh Myxobolus

Myxobolus có hình quả lê hoặc hình trứng, phía trên có hai cực nang, trong cực
nang có sợi dây xoắn. Khi vào ruột cá, sợi dây xoắn bắn ra ngoài cực nang để
bám vào thành ruột cá, da hoặc mang.
Bào tử trùng phát triển qua hai thời kỳ: thời kỳ dinh dưỡng và thời kỳ hình thành
bào tử. Trong mỗi bào nang có hàng vạn đến hàng triệu bào tử. Bào nang có
thể nhìn thấy bằng mắt thường, màu trắng bằng hạt tấm, kích thước 1-2mm
bám ở da, mang và vây của cá.
Dấu hiệu bệnh lý: Giải phẩu có thể nhìn thấy bào nang ở thành ruột, gan và cơ
của cá. Bào nang chứa dịch đục, sệt, soi dưới kính hiển vi sẽ thấy hàng vạn bào
tử trùng.
Phân bố bệnh:Bào tử trùng ký sinh ở các loài cá tra, chép, rô phi, mè…

• Bệnh trùng quả dưa:Ichthyophthyriosis

Giống Ichthyophthyrius
Họ Holotricha
Bộ Ophrioglenidae
Lớp Ciliata
Ngành Protozoa

• Tác nhân gây bệnh: Ichthyophthyrius

Ichthyophthyrius hình dạng giống quả dưa, kích thước khoảng (300-500)µm x
(300-400)µm, mắt thường có thể nhìn thấy.
Dấu hiệu bệnh lý: Trùng quả dưa ký sinh trên da, trên các tia vây và mang với
nhiều hạt màu trắng đục. Cá bệnh có màu sắc da thay đổi, một số cá có màu
đen thẩm hoặc loang lỗ. Màu sắc mang cá không đều, có chỗ nhợt nhạt do bị
thối loét, tia mang rời ra, chức năng hô hấp bị tổn thương, cá bị ngạt, thở gấp,
miệng luôn ngáp.
Phân bố bệnh:Bệnh xảy ra trên hầu hết các loài cá, nhưng chủ yếu làm chết cá
giống : cá chép, cá trắm, cá tra, cá rô phi …

b. Ngành giun dẹp: Plathelminthes


Lớp sán lá: Trematode
Lớp phụ: Sán lá đơn chủ: Monogenea.
+ Bệnh sán lá 16 móc: Dactylogyrosis
Tác nhân gây bệnh: Dactylogyrus
Dactylogyrus thân mềm trắng, dài, đầu có 4 thùy, có tuyến đầu và 4 mắt đen.
Dấu hiệu bệnh lý: Khi cá bị nhiễm Dactylogyrus mang nhợt nhạt, từng vùng
mang có màu trắng, tia mang rời ra, có nhiều nhớt đặc bao phủ mang. Cá bị
ngạt, nổi đầu và bơi lờ đờ trên mặt nước.
Phân bố bệnh: Dactylogyrus hầu hết trên các loài cá.
Trong lớp sá lá đơn chủ còn có Gyrodactylus (Sán lá 18 móc) cũng gây bệnh
hầu hết trên các loài cá nước ngọt.
+ Bệnh sán lá gan: Clonorchosis
Tác nhân gây bệnh:Clonorchosis sinensis
Sán lá gan thân dẹt, màu đỏ nhạt, dài 10-20mm, chiều rộng 2- 4mm, có hai hấp
khẩu. Cơ quan sinh dục phát triển mạnh. Trứng hình hạt vừng, màu vàng có
nắp có gai nhọn, kích thước (25-30)µm x (15-17)µm.
Chu kỳ phát triển và sinh sản: Trùng trưởng thành và ký sinh ở ống mật nhỏ
trong gan của người và động vật có vú. Trùng đẻ trứng theo phân ra ngoài, ốc
Bithynia ăn phải, trứng sán phát triển thành ấu trùng Micracidium và tiếp tục
phát triển để trở thành Cercaria có đuôi. Ấu trùng Cercaria (kích thước 300 µm)
rời ốc ra ngoài nước bơi lội tự do, gặp cá bám vào da, vẫy rồi phát triển đến giai
đoạn ấu trùng Metacercaria (ấu trùng nang, kích thước khoảng 0,5mm) ở các
cơ của cá.
Người và động vật có vú ăn cá chưa nấu chín có ấu trùng nang thì nó phát triển
thành trùng trưởng thành ký sinh ở gan người (hoặc chó, mèo, heo, vịt, chuột).

4. Bệnh do vi khuẩn
Vi khuẩn là tác nhân gây bệnh khá quan trọng, là trở lực chủ yếu làm hạn chế
và mở rộng sản xuất trong nuôi trồng thủy sản. Hầu hết các vi khuẩn gây bệnh
là một phần của hệ vi sinh vật bình thường trong môi trường nước (ao, hồ, sông
rạch). Các vi khuẩn nầy nói chung đều là tác nhân gây bệnh thứ cấp hay tác
nhân gây bệnh cơ hội. Chỉ có một số ít loài vi khuẩn là tác nhân khởi phát. Bệnh
thường xảy ra do biến động của các yếu tố môi trường hoặc do stress nhưng
cũng có thể gây chết cao.
Tỷ lệ chết do nhiễm khuẩn có thể lên đến 100%, bệnh có thể gây ra dưới dạng
mãn tính, bán cấp tính và cấp tính. Hầu hết các vi khuẩn gây bệnh trên thủy sản
đều có những triệu chứng giống nhau, đặc biệt là trên cá.

5. Bệnh nhiễm khuẩn huyết do Aeromonas


Tác nhân gây bệnh: Nhóm vi khuẩn gây bệnh chủ yếu thuộc giống Aeromonas:

• Aeromonas hydrophila
• Aeromonas caviae
• Aeromonas sobria

Vi khuẩn Aeromonas hydrophila có dạng hình que ngắn gần giống cầu trực
khuẩn kích thước 0,7 -0,8x 1,0-1,5µm, di động vơi tiêm mao ở đỉnh. Gram âm,
oxy hóa và lên men đường. Vi khuẩn khu trú bình thường trong nước, đặc biệt
là nước có nhiều chất hữu cơ. Nó cũng có thể không gây bệnh khi khu trú trong
ruột cá.
Đối tượng nhiễm bệnh: Các loài cá nuôi nước ngọt như họ cá cá chép, trê, tra,
ba sa. Cá con dễ mẫn cảm hơn cá trưởng thành, có thể gây chết đến 80%.
Dấu hiệu bệnh lý:

• Cá bị sẩm màu từng vùng ở bụng


• Xuất huyết từng mảng đỏ trên cơ thể
• Hoại tử đuôi, vây, xuất hiện các vết thương trên lưng, các khối u trên bề
mặt cơ thể, vảy dễ rơi.
• Mắt lồi, mờ đục và phù ra.
• Xoang bụng chứa dịch, nội tạng hoại tử.

Chẩn đoán: Nuôi cấy, phân lập vi khuẩn theo phương pháp Vi khuẩn học.
Phòng trị bệnh: Điều chỉnh mật độ nuôi cho thích hợp.Vệ sinh ao, bè đúng qui
trình nuôi. Tránh hàm lượng chất hữu cơ trong nước cao, Oxy hòa tan thấp.

• Tắm 2-5 ppm KMnO4, không qui định thời gian đối với cá nuôi ao, Đối với
cá nuôi lồng bè, sử dụng 10ppm KMnO4 định kỳ.
• Tắm Chloromycetine 80 ppm trong 3 ngày, ít nhất 24giờ/lần, nên dùng
Butylene glycol để hòa tan thuốc vào nước.
• Tetramycine 75mg /kg thể trọng cá/10 ngày (cho ăn).
• Streptomycine 100mg/kg thể trọng cá/10 ngày (cho ăn).

- Dùng Oxytetracyline 55mg/kg thể trọng cá/10 ngày (cho ăn).

6. Bệnh nhiễm khuẩn do Pseudomonas (bệnh đốm đỏ)


Tác nhân gây bệnh:

• Pseudomonas fluorescens
• Pseudomonas anguillíseptica
• Pseudomonas chlororaphis, …

Dấu hiệu bệnh lý:

• Xuất huyết từng đốm đỏ trên da, xung quanh miệng và nắp mang, bề mặt
bụng.
• Bề mặt cơ thể có xuất huyết, tuột nhớt nhưng không xuất hưyết vây và
hậu môn.
• Pseudomonas spp. xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy các mô, các chức
năng trong cơ thể. Khi các cơ quan bị phá hủy có thể gây chết cá đến 70-
80%.

Phân bố bệnh:Pseudomonas spp. phân bố rộng trong môi trường.


Pseudomonas spp. gây nhiễm khuẩn huyết thường liên quan đến stress, các
thương tổn về da, vẩy do tác nhân cơ học, mật độ nuôi cao, dinh dưỡng kém,
hàm lượng DO thấp.
Pseudomonas spp. xâm nhập vào cơ thể qua các thương tổn ở mang, da …
Phòng trị bệnh: Dùng vaccine để phòng bệnh.

• Giảm mật độ nuôi.


• Cung cấp nguồn nước tốt.
• Tắm 3-5ppm KMnO4, không qui định thời gian.

Ngoài ra còn một vài nhóm vi khuẩn khác có khả năng gây bệnh cho một số loài
cá nuôi:
• Flexibacter columnaris, Pseudomonas fluorescens, Edwarsiella tarda,
Acinetobacter sp. …đây là các vi khuẩn có dạng hình que, Gram âm,
không sinh bào tử, hiếu khí.
• Clostridium botulinum vi khuẩn hình que, Gram dương, tạo bào tử, kỵ khí
tuyệt đối.
• Streptococcus sp. vi khuẩn hình cầu kết thành chuổi, kích thước 0,7 - 1,4
µm Gram dương, không tạo bào tử, không capsule, không di động.
• Bệnh do virus

Nhóm virus có thể gây bệnh trên các loài cá nuôi nước ngọt CCVD (Channel
Catfish Virus Disease) như ở cá trê, cá nheo …cụ thể là Herpesvirus ictaluri.
Tác nhân Herpesvirus ictaluri (90 -100 nm).
Đối tượng nhiễm bệnh: các loài nhiễm bệnh thuộc nhóm cá trơn.

• Bệnh có thể gây chết 100% cá dưới một năm tuổi ở nhiệt độ 25oC trở lên
trong vòng 7-10ngày, dưới 18oC không gây chết cá. Ngoài ra cũng tìm
thấy vi khuẩn trong cá bệnh như Aeromonas hydrophila, Flavobacterium
columnare hoặc nấm.
• Virus có thể di chuyển đến gan, ruột, tim và não.
• Virus có thể gây hoại tử mô tạo máu, phù gan, ruột.
• Virus xâm nhập vào cơ thể cá từ nước qua mang và ruột.
• Nhiệt độ thích hợp cho virus nhân bản từ 25 -30oC.
• Cá xuất hiện bệnh trong vòng 3 ngày sau khi nhiễm virus và bộc phát
bệnh trong vòng 7-10 ngày.
• Cá bố mẹ có thể mang mầm bệnh.

Dấu hiệu bệnh lý:

• Virus gây hoại tử ống thận và mô tạo máu, gan xung huyết và sưng, xuất
huyết tỳ tạng.
• Cá giống, cá hương, cá bố mẹ đều có thể mầm bệnh.
• Cá mắc bệnh có biểu hiện : bụng trướng to, mắt lồi, mang xuất huyết và
nhạt màu từng mảng.
• Xuất huyết vây và da.
• Trong số cá bệnh có khoảng 20-50% cá bơi dựng đứng trên mặt nước.

Chẩn đoán: Soi bệnh phẩm dưới kính hiển vi điện tử.

• Dùng kỹ thuật kháng thể huỳnh quang.


• Nested PCR…

Bệnh thường gặp trên cá nuôi nước mặn


• Bệnh do vi khuẩn : Hầu hết vi khuẩn gây bệnh trên cá nuôi nước mặn,
nước lợ đều thuộc giống Vibrio như
o Vibrrio alginolyticus,
o Vibrrio anguillarum,
o Vibrio vulnificus
o Vibrio sp., …

Vi khuẩn có dạng hình que ngắn, hơi cong hoặc thẳng, kích thước 0,5 x1,0 -
2,0µm, không có capsule, chỉ có tiêm mao ở đỉnh, gram âm, phát triển trong môi
trường có 1 -1,5% NaCl. Bệnh thường phát triển trong điều kiện nhiệt độ nước
cao, tỷ lệ chết có thể đến 50%, cá giống dễ nhiễm bệnh hơn cá trưởng thành.
Đối tượng nhiễm bệnh: Các loài cá nuôi nước mặn như cá mú, cá chẽm, cá
măng…
Dấu hiệu bệnh lý: Trường hợp cấp tính cá ngừng ăn, màu da sậm lại, có vết
thương, trên da, xuất huyết và chết nhanh. Đôi khi vết thương trở thành các vết
loét sâu. Mắt đục lồi. Nội quan: gan, thận sưng to, đôi khi nhũn.
Phân bố bệnh: Các loài Vibrio phân bố rộng trong các thủy vực nước mặn và
cửa sông. Bệnh thường xuất hiện nhiều trong mùa nước ấm và khi nồng độ
muối cao, chất hữu cơ nhiều trong nước. Cá bị stress dễ cảm nhiễm Vibrio.
Chẩn đoán: Phát hiện vi khuẩn từ gan, thận, tỳ tạng, hoại tử cơ và các nội quan.
Nuôi cấy vi khuẩn trên các môi trường chọn lọc.
Phòng trị: Dùng vaccine để phòng bệnh.

• Quản lý chất lượng nước tốt.


• Nuôi với mật độ hợp lý.
• Dùng Oxytetracycline 77mg/kg thể trọng cá/10 ngày (cho ăn).

- Bệnh do virus
Một vài nhóm virus có thể gây bệnh trên cá nuôi nước mặn như VNN (Viral
Nervous Nerosis), Lymphocystic Disease hoặc SGD (Sleeper grouper Disease)
gây bệnh trên các loài cá nuôi , cụ thể là Nodavirus, Iridovirus, …nhiễm trên các
loài cá biển: Lates sp., Epinephelus sp., Scophthalmus maximus.

- Nhóm VNN (Viral Nervous Nerosis)


Tác nhân gây bệnh: Nodavirus, (kích thước 20-25nm)
Đối tượng nhiễm bệnh : Virus nhiễm trên các loài cá nuôi nước mặn như

• Cá chẽm Lates sp.


• Cá sọc Pseudocaranx dentex
• Cá bơn Scophthalmus maximus) …

Virus nhiễm ở các loài cá trên đã xuất hiện ở Thailand, Taiwan, Singapore.
• Virus nhiễm trên cá từ giai đoạn ấu trùng đến cá hương, cá giống. Bệnh
gây chết cá từ 50-95% cá giai đoạn ấu trùng và giống ở nhiệt độ 26-30oC.
Xảy ra nhiều nhất ở ấu trùng 20 ngày tuổi.
• Virus phát huy độc lực ở nhiệt độ cao (28oC) mạnh hơn ở nhiệt độ thấp
(16 oC).
• Cá bố mẹ có thể lưu giữ mầm bệnh

Dấu hiệu bệnh lý:

• Bệnh có thể xuất hiện 4 ngày sau khi nhiễm virus, cá giảm ăn, gầy yếu,
thân bạc màu, bơi mất phương hướng, nổi trên mặt nước hoặc lắng dưới
đáy.
• Giải phẩu thấy gan nhạt màu, hệ tiêu hóa rỗng, tỳ tạng có đốm đỏ, ruột
chứa đầy dịch màu xanh đến nâu.
• Virus nhân bản trong mắt, não, ngoại biên tủy sống của cá. Ngoài ra cũng
được tìm thấy ở tuyến sinh dục, gan, thận, dạ dày và ruột.

Chẩn đoán:

• Dùng tiêu bản Mô bệnh học.


• Chẩn đoán dưới kính hiển vi điện tử.
• RT. PCR
• ELISA
• Kháng thể huỳnh quang
• In- situ hybridization

Bệnh do thiếu dinh dưỡng ở cá


Hội chứng bệnh liên quan đến sự thiếu protein và Amino acid
Chẩn đoán bệnh nầy cực kỳ khó vì không có những dấu hiệu bệnh lý đặc trưng
riêng, dễ nhầm lẫn với các bệnh do tác nhân hữu sinh. Có lẽ dấu hiệu để nhận
biết khẩu phần ăn thiếu protein là sự giảm hay ngừng tăng trưởng của động vật
thủy sản. Cách khắc phục là bổ sung amino acid vào khẩu phần thức ăn hoặc
thiết kế lại thành phần dinh dưỡng cho phù hợp.

• Hội chứng bệnh liên quan đến khẩu phần đường

Gia tăng lượng đường trong khẩu phần ăn, gan phải gia tăng sự chuyển hóa từ
glucoz qua glycogen, hậu quả là gan sưng to, cá bơi lội gần mặt nước, màu da
sẩm lại và cá ngừng bắt mồi, dễ chết.

• Hội chứng bệnh liên quan đến sự thiếu muối khoáng trong khẩu phần
Các muối khoáng : Calcium, Potassium và magnesium trong cấu tạo xương và
liên quan đến sự biến dưỡng trong cơ thể cá. Nếu tỷ lệ giữa các thành phần nầy
không cân bằng hoặc thiếu sẽ làm cho cá dễ bị dị hình.

Bệnh thường gặp trên tôm biển


1. Bệnh mảng bám
Tôm bị mảng là một hiện tượng khá phổ biến đối với tôm nuôi ở mật độ cao
(bán thâm canh, thâm canh). Bệnh xảy ra do tổ hợp nhiều tác nhân tạo nên.
Trong đó nguyên nhân cơ bản là tôm bị yếu trong môi trường nước chất lượng
xấu, giảm khả năng tự làm sạch. Các tác nhân cơ hội khác như tảo, nấm, động
vật nguyên sinh, vi khuẩn và các chất hữu cơ lơ lững bám, ký sinh.
Các tác nhân gây bệnh mảng bám:

• Nhóm vi khuẩn dạng sợi như Leucothrix mucor, Leucothrix sp., Thiothrix
sp.
• Nhóm Protozoa: Zoothamnium sp., Epistylis sp., Vorticella sp., Acineta
sp., …
• Nhóm tảo : tảo lam : Nitszchia sp., Amphiophora sp., Navicula sp., nhóm
tảo lục: Enromorpha sp.,….
• Các loại nấm: Fusarium sp., Lagenidium sp., Haliphothoros sp.,
Sirolpidium sp.,…

Các tác nhân gây bệnh mảng bám không trực tiếp gây hại cho tôm, nhưng
chúng gián tiếp gây trở ngại cho quá trình vận động, bắt mồi, lột xác và trao đổi
Oxy ở mang, có thể dẫn đến trường hợp gây tôm chết.
Theo D.V. Lightner (1996): “ Tất cả các sinh vật liên quan đến bệnh mảng bám
trên tôm đều là những sinh vật sống tự do trong nước. Chúng không phải là
mầm bệnh thật sự, mà chúng sử dụng tôm như là một giá thể để chúng bám
vào. Những sinh vật nầy được gọi là sinh vật hội sinh.
Quan sát tôm bệnh dựa vào những dấu hiệu bên ngoài của tôm. Mảng bám trên
bề mặt của thân làm vỏ tôm mờ, không sáng bóng, hoặc trên mang và các phần
phụ của tôm sẽ bị đổi màu (thường là nâu hoặc đen) khi bị các tác nhân nầy
bám vào. Khi mang tôm có màu xanh biển hay xanh nâu là do tảo bám.

2. Bệnh do vi khuẩn
Bệnh do vi khuẩn dạng sợi
Tác nhân gây bệnh: Tác nhân gây bệnh chủ yếu do Leucothrix mucor, ngoài ra
còn gặp một số vi khuẩn dạng sợi khác như Cytophagar sp., Flexibacter
sp.,Thiothrix sp., Flavobacteriumsp.,… Đó là những vi khuẩn hoại sinh sống tự
do trong nước biển. Chúng có thể phát triển trên bề mặt của nhiều loài động vật
có xương sống, không xương sống và rong biển.
Dấu hiệu bệnh lý: Trên tôm ấu trùng và hậu ấu trùng, vi khuẩn dạng sợi phát
triển trên bề mặt cơ thể, đặc biệt là đầu mút các phần phụ.
Trên tôm trưởng thành vi khuẩn dạng sợi phát triển trên chân bơi, chân bò, râu
và các phần đầu, các phần phụ của miệng và mang. Cá thể nhiễm bệnh nặng
mang chuyển màu từ vàng sang xanh lá hoặc nâu.
Chẩn đoán: Soi dưới kính hiển vi, các phần lông cứng của ấu trùng và hậu ấu
trùng, hoặc các phần phụ, mang .. . của tôm giống và các giai đoạn tôm thương
phẩm thấy các thể sợi bám trên bề mặt của vỏ kitin hay các đầu mút của các
phần phụ.
Phân bố bệnh: Bệnh có thể gặp trên tất cả giai đoạn phát triển của tôm, nhưng
thường gặp trên tôm ấu trùng và hậu ấu trùng. Bệnh có thể gây chết tôm đến
80% trong vòng vài ngày đến vài tuần lễ. Tất cả các loài tôm he đều có thể bị
nhiễm bệnh nầy.
Phòng trị bệnh:

• Dùng CuSO4, CuCl2 nồng độ 0,1ppm ngâm trong 24 giờ. Hoặc CuCl2
nồng độ 0,5 -1ppm từ 2-4giờ.
• KmnO4 nồng độ 2,5 -5ppm ngâm trong 4 giờ.
• Formaline nồng độ 25ppm ngâm trong 24 giờ, hoặc nồng độ 50- 250ppm
ngâm từ 4-8 giờ.
• Cloramine T nồng độ 5ppm ngâm trong 24 giờ.
• Malachite green nồng độ 5ppm ngâm trong 2 phút.
• Oxytetracycline nồng độ 100ppm ngâm trong 24 giờ.
• Neomycine nồng độ 10ppm ngâm trong 24 giờ.

• Bệnh vỏ đốm nâu (đốm đen) hay bệnh Vibrios trên tôm he

Tác nhân gây bệnh: bệnh do các loài vi khuẩn thuộc giống Vibrio gây ra. Đa số
là các loài: Vibrrio parahaemolyticus V. alginolyticus, V. anguillarum, Vibrio spp.,
Pseudomonas sp., Aeromonas sp., … Đây là hóm vi khuẩn bắt màu Gram âm,
hình que, dáng cong nhẹ, kích thước 0,3 - 0,5 x 1,4 -2,5µm, di động nhờ tiêm
mao, hiếu khí.
Bệnh xuất hiện trên tất cả các loài giáp xác ở biển và cửa sông, trên các loài
tôm he nuôi các vùnh trên thế giới.
Dấu hiệu bệnh lý: Tôm giống và tôm trưởng thành bỏ ăn, kéo thành đàn bơi
vòng vòng, các phần phụ và lưng xuất hiện các đốm nâu hay đen, đục cơ ở
bụng, chân bơi, chân bò biến màu đỏ, đôi khi đứt khớp vỏ ở đốt thư ba.
Chẩn đoán: Phân lập vi khuẩn bằng phương pháp vi sinh học.
Phòng trị bệnh :

• Quản lý chất lượng nước nuôi tôm tốt


• Dùng EDTA (Ethylene diamine tetraacetic acide) nồng độ 5ppm.
• Formaline nồng độ 25ppm.
• Oxytetracycline nồng độ 3-5g/kg thể trọng

• Bệnh phát sáng trên ấu trùng

Tác nhân gây bệnh: Nhóm Vibrio phát sáng là một phần của hệ vi sinh vật tự
nhiên khu trú ở vùng biển ven bờ. Chúng được tìm thấy trên bề mặt và trong
ruột của các động vật sống ở biển. Vibrio harveyi và Vibrio splendicus là hai loài
vi khuẩn phân lập được từ các mẫu tôm ấu trùng và hậu ấu trùng bị bệnh phát
sáng. Tuy nhiên Vibrio harveyi mới được xem là loài vi khuẩn chủ yếu gây bệnh
phát sáng trên tôm.
Bệnh nầy xuất hiện trên 3 loài tôm: Penaeus monodon, Penaeus merguiensis,
Penaeus indicus.
Dấu hiệu bệnh lý: Tôm nhiễm bệnh nầy hoạt động trở nên nhanh nhẹn hơn bình
thường. Thân tôm trắng mờ đục. Những tôm sắp chết thường bơi trên mặt
nước hoặc ven bờ ao. Tôm bệnh nặng có màu xanh lục phát huỳnh quang khi
nhìn trong tối. Soi dưới kính hiển vi thấy mẫu xoang bạch huyết và mẫu ruột dày
đặc những vi khuẩn di động. Cơ quan chủ yếu bị nhiễm khuẩn là gan tụy. Tôm
giống dưới 45 ngày nuôi bị nhiễm bệnh thì thấy tế bào ống bên trong gan tụy bị
phá hủy. Chỗ lõm giữa các tế bào hình ống bị bịt kín bởi các bạch cầu và các tế
bào sợi. Tế bào biểu mô bị hoại tử.
Chẩn đoán: Phương pháp Vi khuẩn học.

• Phương pháp Mô bệnh học.


• Phương pháp Huyết thanh học (phản ứng ngưng kết, FAT, ELISA)
• Phương pháp PCR.

Phòng bệnh: Quản lý tốt chất lượng nước nuôi tôm. sử dụng các chế phẩm vi
sinh để phân giải chất hữu cơ trong ao nuôi.
* Bệnh do virus

• Bệnh MBV (Monodon baculovirus)

Tác nhân gây bệnh: Bệnh gây ra do Monodon baculovirus type A, cấu trúc di
truyền là DNA, kích thước DNA khoảng 7-3nm, virus dạng hình que, có vỏ bao.
Virus ký sinh ở tế bào biểu mô hình ống của gan tụy và tế bào biểu bì ở ruột
giữa và sản sinh bên trong nhân tế bào ký chủ.
Dấu hiệu bệnh lý: Tôm chậm phát triển, hoạt động kém, thân sẩm màu. Nhân tế
bào gan tụy trương to, bên trong chứa nhiều ẩn bào. Các ẩn bào cũng được tìm
thấy bên trong nhân tế bào biểu mô của đoạn ruột giữa.
Chẩn đoán: bằng phương pháp mô bệnh học.
Phân bố bệnh: Bệnh nhiễm trên tất cả các giai đoạn phát triển của tôm, chủ yếu
là giai đoạn post larvae.
• Nhóm virus ký sinh ở cơ quan gan tụy (Hepatopancreatic virus)

Tác nhân gây bệnh: Monodon baculovirus (MBV) còn được xếp chung với nhóm
virus ký sinh ở gan tụy Hepatopancreatic virus, nhóm nầy gồm có:

• Monodon baculovirus (MBV)


• Hepatopancreatic parvo - like virus (HPV)
• Type C baculovirus
• Baculovirus penaei (BP)

Những virus nầy phá vỡ tế bào gan tụy và làm cho tôm dễ mẫn cảm với điều
kiện bất lợi của môi trường hoặc các bệnh khác. Chúng ký sinh bên trong tế bào
gan tụy. Ngoài ra Type C, Baculovirus xuất hiện những ẩn bào bên trong nhân
của tế bào bị nhiễm. Những virus nầy truyền lây bằng các ẩn bào theo phân ra
ngoài và được truyền sang tôm khác hay từ tôm mẹ sang ấu trùng.

• Nhóm virus gây bệnh đốm trắng (WSBV hoặc SEMBV)

Tác nhân gây bệnh: Đây là nhóm virus gây chết cấp tính. Chúng nhiễm hầu hết
trên các loài tôm he như Penaeus monodon, P. japonicus, P. chinensis, P.
indicus, P. merguiensis … và trên các giai đoạn phát triển của tôm từ ấu trùng
đến tôm thương phẩm. Virus ký sinh ở các tế bào trung bì của các cơ quan:
cuống mắt, dạ dày, mang…
Có 4 nhóm virus được xếp vào nhóm virus gây bệnh đốm trắng như

• HHBN (baculoviral hypodermo and hematopoietic necrosis); SEED


(Shrimp Explosive Epidermic Disease) China Virus Disease, nhóm nầy có
kích thước: 120 -360 nm.
• RV - PJ (Rod - shaped nuclear virus of P. japonicus), kích thước khoảng
83 x 275 nm.
• SEMBV (Systemic ectodermal and mesodermal baculovirus; red disease;
disease), kich thước : 121 x 276 nm
• WSBV (white spot baculovirus); WSS (white spot syndrome), kích thước :
70-150 x 250 - 380 nm.

Virus nhiễm vào tôm nuôi qua hai con đường chính: mầm bệnh mang từ ấu
trùng (truyền thẳng từ tôm mẹ) và mầm bệnh có thể nhiễm từ các sinh vật biển
(các loài giáp xác hoang dã), hoặc thức ăn mang mầm bệnh hoặc nhiễm từ
nguồn nước lấy vào.
Dấu hiệu bệnh lý: Bệnh bộc phát rất nhanh, tỷ lệ chết trên 80%, có khi 100%
trong vòng 3 -10 ngày. Dấu hiệu để nhận biết bệnh:
• Tôm bỏ ăn, xuất hiện nhiều đốm trắng ở vỏ kitin, đặc biệt là mặt trong của
lớp vỏ carpace. Các đốm trắng có đường kính 0,5-2mm.
• Dấu hiệu không đặc thù khác: các phụ bộ bị tổn thương, tôm bị đóng rong

Chẩn đoán: Đốm trắng bên dưới vỏ kitin, thường tập trung nhiều ở carapace.
Phương pháp chẩn đoán:

• Mô bệnh học,
• In- situ hybridization,
• Dot blot và
• Phương pháp PCR

Phân bố bệnh : Bệnh phân bố rộng ở các nước : Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật bản,
Đại Hàn, Đài Loan, Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Thailand.

• Bệnh đầu vàng (Yellow head Disease or Yellow head virus)

Tác nhân gây bệnh: Virus hình que, có cấu trúc di truyền RNA, bệnh gây chết
cấp tính do Baculovirus, Type B.
Dấu hiệu bệnh lý: Bệnh phát triển nhanh, tôm nhiễm bệnh tiêu thụ thức ăn nhiều
hơn bình thường, rồi đột ngột bỏ ăn trong vòng 1 -2 ngày thì có hiện tượng chết.
Bệnh có thể gây chết 100% tôm nuôi. Kiểm tra thấy gan tụy sưng to hơn bình
thường và có màu vàng khi nhìn xuyên qua vỏ đầu.
Chẩn đoán: Phương pháp Mô bệnh học.
Phân bố bệnh: Chưa được biết về dịch tể học của bệnh nầy và sự phân bố
bệnh còn giới hạn.

* Bệnh do thiếu dinh dưỡng ở tôm

• Bệnh thiếu vitamin C

Bệnh thiếu vitamin C hay còn gọi là bệnh chết đen được tìm thấy ở tôm he trong
giai đoạn giống hay giai đoạn đầu tôm thương phẩm.
Nguyên nhân: Bệnh xuất hiện trên tôm do thiếu vitamin C hay hàm lượng
vitamin C thấp dưới ngưỡng. Thiếu vitamin C kéo dài bệnh có thể gây chết tôm
từ 1-5% mỗi ngày. Bệnh bùng nỗ từ stress. Thiếu vitamin C có thể gây bệnh
nhiễm khuẩn huyết.
Dấu hiệu bệnh lý:Tôm tăng trưởng kém, biến màu đen bên dưới lớp vỏ kitin và
tổn thương.
Chẩn đoán: Dùng phương pháp Mô bệnh học.
Phòng trị:
• Cung cấp đủ lượng vitamin C cần thiết cho tôm phát triển.
• Bổ sung tảo để cung cấp đầy đủ vitamin C cho ấu trùng tôm.

• Hội chứng mềm vỏ kéo dài

Hội chứng nầy thường xảy ra trong các ao nuôi tôm thương phẩm.
Nguyên nhân:

• Do bị các vi sinh vật bám bẩn.


• Hàm lượng Phospho, Calci trong nước thấp.
• Thiếu dinh dưỡng.
• Gan, tụy teo nhỏ.

• Bệnh tôm biến màu xanh dương

Bệnh do khẩu phần thức ăn thiếu carotenoid (Asthaxanthin) hoặc một vài tác
nhân trong môi trường.

• Hội chứng cong thân

Do điều kiện môi trường và các nhân tố dinh dưỡng như: thiếu sự cân bằng
giữa tỷ lệ Ca và Mg hoặc thiếu vitamin nhóm B.

Chương 10: Bảo Quản, Chế Biến Thuỷ Sản Sau Thu
Hoạch

Bảo quản nguyên liệu


1. Nguyên liệu cá giáp xác, nhuyễn thể
* Tính chất của nguyên liệu cá
Protein thịt cá gồm: albumin (17 - 21%), myozin (70 - 80%), miostromin (3%).
Myozin kém bền nhất và có hàm lượng lớn nhất nên biến đổi myozin thịt cá rất
quan trọng trong quá trình chế biến. Colagen và elastin là protein không hoàn
hảo nằm trong da và mô liên kết. Protein có 23 axit amin khác nhau, có đủ 10
axit amin thiết yếu và ở tỷ lệ tối hảo cho dinh dưỡng của người. Ngoài Nitơ
trong protein, ở cá còn có nitơ phi protein và các chất chiết có nitơ (9 - 18% tổng
hàm lượng nitơ). Các chất chiết có nitơ bao gồm các nhóm.

• Nhóm bay hơi gồm các methylamin (TMA) và amoniac


• Trimethylamin oxit (TMAO)
• Các dẫn xuất của guanidin
• Các dẫn xuất của amidazol
Sự có mặt của TMA và TMAO trong cá biển liên quan rất nhiều đến chất lượng
của các quá trình công nghệ chế biến cá. Histidin là acid amin tự do trong cá
biển, dưới tác dụng của nhiệt và vi sinh vật sẽ chuyển thành Histamin - chất độc
hại gây dị ứng cho người sử dụng. Người ta qui định hàm lượng Histamin trong
sản phẩm đồ hộp và thực phẩm chế biến từ cá biển không được quá 10 mg%.
2. Bảo quản lạnh thường
Bảo quản lạnh thường là hạ nhiệt độ của nước trong tế bào cá đến không dưới
-1 đến -20C bởi vì đây là điểm nhiệt độ chuyển trạng thái lỏng sang rắn của
nước trong tế bào cá. Ở nhiệt độ này hoạt động của các enzym nội tại và các
VSV bị kìm chế do vậy các tính chất hoá học và trạng thái của tế bào vẫn giữ
được nguyên vẹn trong thời gian nhất định. Để kéo dài thời gian được lâu nhất
cần phải:

• Đưa cá vào bảo quản nhanh chóng ngay khi đánh bắt.
• Làm lạnh nhanh chóng (thường bằng nước lạnh 00C rồi bằng nước đá
vụn, tỷ lệ đá/cá cao) đến nhiệt độ 0 --> -10C và giữ cá ở nhiệt độ này.
• Đảm bảo vệ sinh môi trường và phương tiện bảo quản.
• Nếu có thể thì phải mổ bỏ nội tạng và bỏ mang cá trước khi bảo quản.

3. Làm lạnh đông


Làm lạnh đông là hạ nhiệt độ của thực phẩm đến điểm Etecti - điểm nhiệt độ
đóng băng của dịch bào (dung dịch các chất muối và hợp chất nitơ trong tế
bào). Ngày nay làm lạnh đông là phương pháp phổ biến ưu việt nhất dùng bảo
quản các nguyên liệu và sản phẩm cá
Nguyên liệu và sản phẩm bảo quản lạnh đông là liên tục không được ngắt
quãng điều điều kiện lạnh đông từ khi bắt đầu đến tận khi sử dụng và chế biến.
Các phương pháp làm lạnh đông

• Dùng lạnh tự nhiên ngoài trời mùa đông xứ lạnh. Phương pháp này rẻ
tiền không hạn chế.
• Ướp bằng tuyết hay nước đá vụn trộn muối (tỷ lệ muối càng tăng nhiệt độ
tan càng thấp: 6% - 3,50C, 28% - 19,90C) nhược điểm của phương pháp
là làm mặn cá và oxy chất béo. Tiêu tốn 100 kg nước đá và 20 kg
muối/100kg cá, thời gian lạnh đông cá từ 10 - 12h.
• Dùng lạnh nhân tạo (nước muối, không khí và mặt tiếp xúc kim loại).
Phương pháp này giá thành cao nhưng chủ động trong sản xuất hiện
đang dùng rộng rãi trong công nghiệp.

Công nghệ chế biến thủy sản


1. Muối cá:
muối cá không chỉ bảo quản trước khi sản xuất mà còn là một công đoạn trong
chế biến cá. Có 3 phương pháp muối cá

• Muối khô: cho muối vào cá muối thấm vào cá và nước từ cá tiết ra, sinh ra
nước muối tự nhiên. Phương pháp muối khô thường dùng cho cá có
lượng mỡ vượt quá 6% và các loài cá nhỏ.
• Muối ướt: cho cá vào nước muối bảo hoà ngâm trong thời gian nhất định.
Trong quá trình muối, nồng độ muối trong dung dịch thường bị loãng đi
làm cho muối thấm không đều vì vậy có thể cho nước muối chạy luân lưu
trong bể muối thay vì bổ sung muối khô vào vì rất khó tan.
• Phương pháp muối hỗn hợp: cho nước muối vào sẳn trong bể sau đó cho
cá và muối theo từng lớp. Phương pháp này vừa nhanh vừa đều.

2. Cá giầm giấm và muối cá có gia vị

• Cá giầm dấm: là phương pháp chế biến dùng muối ăn và acid (thường là
acid acetic) có kèm các loại gia vị ở nhiệt độ không quá 200C. Quá trình
ngấm muối và giấm và cá ở đây giống như quá trình muối cá đã nói ở
phần trên chỉ khác là ngoài yếu tố làm chín sinh hoá do enzym còn do tác
dụng của yếu tố hoá học là muối và giấm ảnh hưởng đến hương vị màu
sắc của cá tạo ra sản phẩm đặc trưng. Sản phẩm này không phải là sản
phẩm lên men, thời gian chín với giấm muối là vài ngày. Trong sản phẩm
có độ muối từ 6 - 8%, acid 0,8 - 1,2% nên phải bảo quản ở nhiệt độ không
quá 50C trong thời gian không quá 3 tháng.
• Cá muối có gia vị: đặc trưng của sản phẩm là trong thịt cá ngoài muối còn
có tinh dầu và các gia vị. Sản phẩm muối có giá trị cần thời gian chín là 1
tháng.

3. Cá sấy và cá phơi khô

• Cá phơi khô: bằng nắng cùng với sự mất nước, trong cá xảy ra quá trình
sinh hoá phức tạp làm biến đổi cá về mặt hình thức và cả hương vị. Quá
trình chín xảy ra khi phơi khô là do tác dụng của enzym và các yếu tố
khác (tia tử ngoại, nhiệt độ, ánh sáng). Protein và lipit có những biến đổi
sâu sắc tạo ra sản phẩm mới có mùi vị đặc trưng. Mỡ thấm đều vào thịt
cá làm bóng bẩy và mất đi mùi vị của cá tươi. Cố gắng phơi ở nhiệt độ
không cao, nắng không gắt, thời gian dài trong măn bảy ngày thì sản
phẩm sẽ ngon.
• Cá sấy:
o Sấy nguội: là dùng nhiệt độ không khí sấy không quá 400C.
o Sấy nóng: là dùng nhiệt độ sấy lúc đầu là 2000C, lúc cuối 90 -
1000C.
o Sấy thăng hoa: là bay hơi nước ở trong cá từ dạng tinh thể lạnh
đông sang dạng hơi ở điều kiện chân không cao mà không qua
trạng thái lỏng. Chế độ thường là là -220C; 0,7 - 1,5mmHg. Sấy
bằng phương pháp này cá giữ nguyên được giá trị chất lượng của
cá tươi. Cá sấy thăng hoa ngâm vào nước sẽ phục hồi lại gần
nguyên dạng và vị trí cá ban đầu.

4. Cá xông khói
Tùy theo nhiệt độ khói khi xông mà gọi

• Xông khói nguội (dưới 400C)


• Xông khói nóng (80 - 1000C)

Xông khói là quá trình tẩm cá bằng các chất có thành phần của khói thu được
bằng phương pháp đốt cháy gỗ không hoàn toàn Đã phân tích được trong thành
phần của khói có hàng trăm các chất khác nhau thuộc nhóm chất: phenol, rượu,
aldehyt, ceton, acid bay hơi, amin và các chất nhựa… Các chất này tạo mùi đặc
trưng cho sản phẩm hun khói. Ngoài ra là tác dụng sát khuẩn, ức chế hoạt động
enzym mà nhờ đó hạn chế quá trình oxy hoá chất béo. Sản phẩm cá hun khói
nguội có độ muối cao có thể bảo quản 1 tháng ở nhiệt độ thường hoặc 3 tháng
ở 0 - 50C).
5. Các sản phẩm mắm
Các sản phẩm chủ yếu trong loại này là nước mắm, mắm ruốc và mắm tôm

• Sản xuất nước mắm: có thể theo 2 phương pháp


o Phương pháp đánh quậy: ướp muối, phơi nắng, đánh quậy hằng
ngày trong 6 tháng
o Phương pháp gài nén: rải muối và thính theo từng lớp cá, trên
cùng dùng vĩ tre gài nén. Nước tiết ra phơi nắng rồi lại đỗ lại hàng
ngày trong 6 tháng.
• Sản xuất mắm ruốc: qui trình công nghệ sản xuất mắm ruốc tổng quát
o Nhặt sạch tạp chất, rửa và để ráo nước.
o Trộn với tỷ lệ 10 - 15%.
o Ép bớt nước. Nước ép và bã để riêng và trộn thêm muối tỷ lệ 10%.
o Xay quết bã cho nhuyễn.
o Ủ chín.

6. Sản xuất đồ hộp

• Phân loại các đồ hộp cá: đồ hộp cá có thể chia thành các nhóm
o Đồ hộp cá tự nhiên
o Đồ hộp cá sốt cà chua
o Đồ hộp cá rau hỗn hợp
o Đồ hộp cá không thanh trùng
o Đồ hộp thịt cá voi

Các đồ hộp cá và thủy sản đều có giá trị thực phẩm cao vì 95% là protein có giá
trị tiêu hoá cao, giàu vitamin A, B, D, giàu khoáng vi lượng (I, Cu, Mn,…).

• Một số quá trình cơ bản trong sản xuất đồ hộp


o Chần hấp: mục đích là ngưng các quá trình sinh hoá, giảm và ổn
định thể tích, tăng thẩm thấu tế bào, tự bài khí, làm mất đi một số
chất bay hơi gây mùi tanh, phá hủy liên kết để dễ lột da, tách
xương, bóc vỏ.
o Sấy sơ bộ: mục đích làm mất nước một phần đến độ ẩm 60 - 65%
trước khi xếp hộp làm tăng chất lượng đồ hộp.
o Rán: rán cá trong dầu thực vật có nhiệt độ 130 - 140oC
• Thanh trùng đồ hộp: thanh trùng đồ hộp là tiêu diệt được các vi sinh vật
có hại và hầu hết các vi sinh vật khác. Thanh trùng đồ hộp về lý thuyết có
thể bằng nhiều phương pháp nhưng thực tế chủ yếu vẫn dùng phương
pháp thanh trùng bằng nhiệt vì rẻ, có hiệu quả cao chắc chắn và nhiều
trường hợp còn để làm chín thực phẩm, làm nhừ xương và sản phẩm dai,
cứng.

7. Bột cá trong chăn nuôi thuỷ sản và gia súc gia cầm
Bột cá chăn nuôi sản xuất từ hỗn hợp các loại cá nguyên con và có thể có một
phần phế liệu cá. Công nghệ tổng quát theo thứ tự:

• Hấp chín
• Ép nóng để tách mỡ và nước
• Sấy khô
• Xay nhỏ sàng
• Phối hợp trộn đều.

Theo quy định chất lượng bột cá

• Ẩm 10%
• Protein 55 - 68%
• Lioit < 5%
• Muối <2%

Ngoài ra lượng tạp chất, mốc, chỉ số peoxit, màu sắc và mùi vị là những qui định
kèm theo. Giá trị cơ bản của bột cá là hàm lượng protein.
8. Sản xuất keo cá và nhũ vảy cá

• Sản xuất keo: nguyên liệu để sản xuất keo cá là các phần giàu colagen
(bong bóng, vẩy, da, xương, vây) mà chủ yếu là vây vẩy. Khi xử lí nhiệt
độ thích hợp thì colagen chuyển thành glutin - thành phần chủ yếu của
keo. Bong bóng một số loài cá (cá tầm…) thành phần chủ yếu đã là glutin
nên bong bóng phơi khô đã là keo khô thực phẩm. Keo cá chất lượng cao
dùng thích hợp trong thực phẩm và các công nghệ sản xuất thực phẩm,
keo chất lượng thấp hơn dùng trong ván ép và xây dựng. Độ bền keo cá
1,5 - 2 lần lớn hơn keo thường.
• Sản xuất nhủ vẩy cá: lớp nhủ trắng bên ngoài vẩy một số loài cá (guanin)
có thể thu được qua công nghệ sản xuất nhủ vẩy cá. Nhủ vẩy cá là một
sản phẩm dạng pat phân tán các tinh thể guanin trong dung môi vecni từ
xenluyloit hay nitroxenluyloit trong eteaxetic. Guanin là một hợp chất hữu
cơ gốc purin, guanin có nhiều trong giới thực vật và động vật.

9. Sản xuất mỡ cá y tế (dầu cá) và chế phẩm vitamine: Công nghệ sản xuất dầu
cá có 3 giai đoạn độc lập

• Tách mỡ lỏng: từ nguyên liệu chứa mỡ trong cá có thể bằng phương


pháp nóng chảy (rán hay đun với nước ở 1000C hay làm đông lạnh),
phương pháp cơ học (xay nhuyễn).
o Phương pháp nóng chảy: đun nguyên liệu mỡ trong nồi bằng hơi
nước bão hoà trực tiếp (1000C, 20 - 40 phút có khuấy) để lắng 50 -
100 phút rồi chiết lấy mỡ lỏng. Bã đun lần 2 (15 - 20 phút), để lắng
60 - 100 phút rồi chiết mỡ lỏng. Hiệu suất thu được 80% lượng mỡ
có trong nguyên liệu.
o Phương pháp cơ học: xay nhỏ nguyên liệu chứa mỡ rồi ly tâm tách
mỡ lỏng. - Chiết sạch và lọc mỡ lỏng:
o Chiết mỡ lỏng bằng ly tâm se nhanh và triệt để hơn lắng
o Làm sạch mỡ lỏng mới chiết bằng cách trộn mỡ lỏng với nước
nóng rồi cho qua separator tách nước với cặn khỏi mỡ bảo quản
sạch.
o Làm sạch mỡ lỏng từ từ đến nhiệt độ 5 - 80C có khi đến nhiệt độ
âm có khuấu liên tục. Khi đó sẽ tạo các tinh thẻ tryglyxerit có kích
thước lớn dễ lọc.
o Lọc bằng máy lọc ép khung bản màng lọclà vải bông. Màng lọc
phải khô, áp suất lọc 5 kg/cm2. Pha rắn thường chiếm khoảng 10 -
20% khối lượng mỡ tùy theo loại mỡ.
• Vitamin hoá mỡ lỏng: Mỡ y tế (dầu cá) là mỡ sản xuất từ gan cá hay mỡ
có hàm lượng vitamin A và D thấp bằng cách cho thêm chế phẩm vitamin
A và D đậm đặc vào. Liều lượng vitamin cho thêm vào tính theo nhu cầu
sản phẩm cần sản xuất. Trộn chế phẩm vitamin A, D vào mỡ cá trong nồi,
điều kiện nhiệt độ thùng khuấy liên tục trong 30 phút. Sản phẩm bảo quản
ở nhiệt độ không dưới 10 0C để tránh kết tinh triglyxerit.

10. Chế biến rong sụn


* Chế biến rong sụn tươi

• Rau rong sụn: rong tươi sau khi thu hoạch, rửa sạch bằng nước ngọt rồi
ngâm trong nước vo gạo hay nước có nhỏ vài giọt chanh đén khi rong
ngã trắng và bớt mùi tanh. Luộc qua vớt ra rồi rửa lại cho hết nhớt để ráo
thành mó rau luộc để ăn.
• Dưa rong sụn: rong sụn tươi rửa nước ngọt để ráo và phơi héo sau đó
muối như muối dưa

* Chế biến rong sụn khô thành món rau ăn


• Làm rau ăn
• Làm nộm rong sụn
• Chè rong sụn: rong sụn khô, ngâm nước ngọt cho trương mềm, để ráo
cắt thành đoạn ngắn rồi cho nước đun sôi vào (thời gian đun sôi không
kéo dài sao cho cọng rong vẫn cò không tan hết) bỏ thêm đường vừa
ngọt, khuấy đều rồi đỗ ra chén se thành món chè rong sụn.

* Chế biến công nghiệp


Rong sụn khô chủ yếu dùng làm nguyên liệu để sản xuất keo Carrageenan ở
dạng bột khô. Keo này có tính nhớt, đông keo, bền và tính ổn định cao nên
được dùng rộng rãi vào nhiều ngành sản xuất hàng hoá và công nghiệp khác.

Thiết bị bảo quản và chế biến thủy sản


1. Thiết bị bảo quản lạnh
Trong sản xuất thủy sản sử dụng rất nhiều các loại trang thiết bị lạnh khác nhau,
chúng có thể được phân loại theo các cách như sau:

• Theo phương pháp tạo độ lạnh


o Máy lạnh nén: trong công nghiệp dùng phổ biến nhất
o Máy lạnh hấp thụ
o Máy lạnh kiểu Tuy- e
o Máy lạnh nhiệt điện
• Theo tác nhân lạnh
o Máy lạnh dùng Freon: đựoc dùng phổ biến trong bảo quản thuqcj
phẩm thủy sản
o Máy lạnh dùng amoniac
o Máy lạnh không khí
• Theo số cấp làm việc
o Máy lạnh 1 cấp
o Máy lạnh 2 cấp
o Máy lạnh nhiều cấp

2. Thiết bị sấy thuỷ sản


Các loại máy sấy thường dùng trong chế biến thủy sản

• Buồng sấy
• Hầm sấy tunel
• Máy sấy băng tải
• Máy sấy trục
• Máy sấy thùng quay
• Máy sấy tầng sôi
• Máy sấy phun
• Máy sấy thăng hoa

3. Thiết bị chế biến thuỷ sản


* Các máy sơ chế nguyên liệu

• Các loại máy rửa nguyên liệu


o Máy rửa kiểu băng chuyền
o Máy rửa kiểu thùng quay
o Máy rửa kiểu sàng lắc
• Các loại máy phân loại nguyên liệu
o Máy phân loại theo kích cỡ
o Máy phân loại theo khối lượng và khối lượng riêng
o Máy phân loại theo màu sắc
• Các loại máy cắt khúc
o Máy cắt khúc dạng dao chặt
o Máy cắt khúc dạng cưa đĩa
o Máy cắt khúc dạng cưa vòng
• Các máy xay, băm quết
o Máy xay cá dạng vít đùn dao chặt
o Máy xay cá thịt dạng trục cắt
o Máy băm quết thịt cá dạng chậu quay dao chặt

* Các máy chế biến sản phẩm thủy sản

• Các máy phối trộn


o Máy phối trộn dạng cánh đảo
o Máy phối trộn dạng vít tải
o Máy phối trộn dạng thùng quay
o Máy đồng hoá dùng vòi phun cao áp
• Các máy chia thành phần và tạo hình
o Máy tạo hình dạng vít đùn dao cắt
o Máy tạo hình dạng cặp trục khuôn
o Máy tạo hình dạng trục khuôn băng ép
o Máy tạo hình dạng khuôn đúc
o Máy tạo hình dạng vo viên
• Các thiết bị chế biến nhiệt
o Thiết bị thanh trùng
o Thiết bị hấp nấu chín
o Thiết bị chiên rán

* Các máy định lượng, nạp bao bì và đóng hộp

• Các máy định lượng


o Máy định lượng theo thể tích
o Máy định lượng theo trọng lượng
o Máy định lượng kết hợp thể tích - trọng lượng
• Máy dán bao bì chất dẻo
• Máy đóng hộp kim loại
o Loại một trục bán tự động
o Loại hai trục tự động

Tài lịệu tham khảo

Tài liệu tiếng Việt

1. Vũ văn Độ: Hoá học và sự ô nhiễm môi trường. Nxb Giáo Dục 1997.
2. Trần Kiên, Hoàng Đức Nhuận và Mai sỹ Tuấn: Sinh thái học và môi
trường. Nxb Giáo dục - 1999.
3. Võ thị Cúc Hoa: Chế biến thức ăn cho cá và thủy đặc sản khác. Nxb Nông
nghiệp - 1997.
4. FAO: Tài liệu kỹ thuật nghề cá FIRI. T255: Nghề nuôi cá trong lồng và
đăng chắn. Các mô hình sinh khối và ảnh hưởng sinh thái học. Rome
1985.
5. FAO: Tạp chí kỹ thuật nghề cá.: Tổng quan sản xuất cá kênh mương.
Trung tâm Thông tin KHKT- KT và Kinh tế Thủy sản- Hà Nội 1992.
6. Khoa Thủy sản - ĐH Cần Thơ: Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt. Sở Khoa học
công nghệ & Môi trường An Giang xb 1994.
7. Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II: Sinh học kỹ thuật nuôi và công
nghệ chế biến sau thu hoạch. Giáo trình hướng dẫn ôn tập thi tuyển công
chức - ngạch nghiên cứu viên. Xb năm 2000.
8. Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II: Sinh học kỹ thuật nuôi và công
nghệ chế biến sau thu hoạch. Giáo trình hướng dẫn ôn tập thi tuyển công
chức - ngạch nghiên cứu viên. Xb năm 2002.
9. Nguyễn văn Phòng : Hải dương học và biển Việt Nam. Nxb Giáo Dục-
1997
10. Đặng Ngọc Thanh: Thủy sinh đại cương. NXb Đại học và Trung học
chuyên nghiệp - 1974.
11. Đặng Ngọc Thanh - Nguyễn Trọng Nho: Năng suất sinh học vực nước.
Nxb Khoa học & kỹ thuật - 1983.
12. Phan văn Tường: Đại dương nguồn nguyên liệu vô tận cho công nghiệp
hoá học. Nxb Khoa học & kỹ thuật - 1978.
13. Nguyễn văn Tuyên : Sinh thái và môi trường. Nxb Giáo dục - 1998.
14. Trần văn Vỹ: Thức ăn tự nhiên của cá. Nxb Nông Nghiệp - tái bản lần 1
năm 1995.
15. G. Rheinheimer: Vi sinh vật học của các nguồn nước. Nxb Khoa học & kỹ
thuật - 1985.
16. Lê Trình: Quan trắc và kiểm soát ô nhiễm môi trường nước. Nxb Khoa
học & kỹ thuật - 1997.

Tài liệu tiếng Anh


1. David . E. Brune and Joseph R.Tomasso : Aquaculture and water quality.
Publish by The World Aquaculture Society - 1991.
2. RH. Lowe - Mc Connell: Ecological studies in tropical fish communities.
Cambridge university press 1987.
3. Cheng Sheng Lee - Mao Sen Su and I Chiu Liao:Finfish Hatchery in Asia.
Proceeding of finfish Hatchery in Asia 1991.